Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC HÒA

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 75/2024/HS-ST

Ngày: 24 – 5 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Quốc

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Rạt.

Ông Nguyễn Chí Lin.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Như Ý – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Võ Quang Mãi – Kiểm sát viên;

Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 73/2024/TLST-HS, ngày 26 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2024/QĐXXST – HS ngày 06 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thành P; tên gọi khác: B; giới tính: Nam.

Ngày, tháng, năm sinh: 07/7/2002; nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh.

Nơi cư trú: Số D, ấp D, xã L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Không; chức vụ trước khi phạm tội: Không; trình độ học vấn: 9/12.

Họ và tên cha: Nguyễn Hữu T, sinh năm 1973 (sống).

Họ và tên mẹ: Trần Thị Kim C, sinh năm 1978 (sống).

Anh, chị, em ruột: Không.

Vợ, con: Không.

Tiền sự: Không.

Tiền án: Không.

Bị cáo Nguyễn Thành P đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/3/2024 đến nay tại xã L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Hữu N, sinh năm 2000.

Địa chỉ: Ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Long An (xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 23 giờ ngày 04 tháng 9 năm 2023, Nguyễn Minh T1 gọi điện thoại thông qua ứng dụng Zalo cho Nguyễn Thành P và nói bị một nhóm người không rõ nhân thân, lai lịch chặn đánh, kêu P đến Công ty Q1 để hỗ trợ T1 đánh nhau, P đồng ý. Đến khoảng 10 giờ ngày 05/9/2023, P gọi điện thoại thông qua ứng dụng Messenger cho Nguyễn Hữu N, rủ N mang theo hung khí qua khu công nghiệp T để đánh nhau với nhóm người trên, N đồng ý.

Đến khoảng 14 giờ ngày 05/9/2023, Nguyễn Hữu N điều khiển xe mô tô biển số 66M1-514.80 đến nhà của Nguyễn Thành P, khi đi N mang theo 01 túi xách màu xanh, đeo trước ngực, bên trong có 01 cây súng dạng rulo, trong ổ đạn có 03 viên đạn màu vàng, đầu đạn bằng kim loại màu xám; 01 viên đạn màu vàng, đầu đạn bằng kim loại màu xám đã bắn nhưng đầu đạn vẫn còn trong viên đạn; 01 bình xịt hơi cay màu đen có chữ Take Down; 01 roi điện màu đen có số 928TYPE; 02 khóa còng số 8 có ký hiệu Bộ C1 KC. Tại đây, N lấy ra 01 bình xịt hơi cay cho P xem rồi N để bình xịt hơi cay này trên bàn trong nhà của P. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, N điều khiển xe mô tô biển số 66M1-514.80 chở P đến Công ty Q1 để biết vị trí, đến khoảng 18 giờ cùng ngày N và P về lại nhà của P. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, N lấy ra 01 cây súng dạng rulo từ trong túi vải của N để cho P xem, xem xong P kêu N cất khẩu súng vào trong túi xách màu xanh.

Đến khoảng 16 giờ 00 phút ngày 06/9/2023, P tiếp tục rủ N đến Công ty Q1 tìm nhóm người trên để đánh nhau, N đồng ý. Sau đó, N lấy bình xịt hơi cay bỏ vào túi xách màu xanh đeo trước ngực, bên trong túi xách có sẵn 01 khẩu súng dạng rulo, còn P mang theo 01 cây sắt bỏ trong áo khoát. Sau khi chuyển bị xong, N điều khiển xe mô tô biển số 66M1-514.80 chở P đến cổng Công ty Q1, khi N và P đi đến ngã 3 đối diện Công ty Q1 thì dừng lại đợi nhóm người nói trên. Đến 18 giờ 30 phút ngày 06/9/2023, khi N và P đang đứng đợi thì bị lực lượng Đồn Công an khu công nghiệp T huyện Đ, tỉnh Long An phát hiện lập biên bản.

Vật chứng tạm giữ: 01 túi xách màu xanh loại 03 ngăn kéo, cao 25cm, rộng 15cm, ngang 20cm; 01 khẩu súng ngắn ổ quay màu đen, thân súng có chữ SMITH&WESSON, ZP-5, MADE IN CHINA; 04 viên đạn màu vàng dài 2,5cm, đầu đạn bằng kim loại màu xám dài 1cm, đế đạn hình tròn đường kính 0,6cm; 01 bình xịt hơi cay màu đen có chữ Take Down; 01 roi điện màu đen có số 928TYPE; 02 khóa còng số 8 có ký hiệu Bộ C1 KC; 01 cây gậy bằng kim loại, có quấn băng keo màu đen, dài 60cm; 01 xe mô tô biển số 66M1-514.80.

Tại Kết luận giám định số 6079/KL-KTHS ngày 26/9/2023 của Phân Viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

“1. Khẩu súng gửi giám định là vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng và là vũ khí quân dụng, thuộc loại súng ngắn ổ quay chế tạo thủ công bắn đạn cỡ (5,6x15,5)mm.

2. 04 (bốn) viên đạn gửi giám định là vũ khí thể thao, thuộc loại đạn cỡ (5,5x15,5)mm, không phải là vũ khí quân dụng.

Kèm theo kết luận giám định: (không)

H lại đối tượng giám định:

- 01 (một) khẩu súng ngắn ổ quay màu đen, thân súng có chữ SMITH&WESSON, ZP-5, MADE IN CHINA;

- 04 (bốn) viên đạn đã dùng để bắn thực nghiệm, không hoàn trả.”

Tại bản Cáo trạng số 74/CT – VKSĐH ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Nguyễn Thành P về tội “Không tố giác tội phạm” theo khoản 1 Điều 390 Bộ luật Hình sự.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ông Nguyễn Hữu N trình bày: Khoảng 08 giờ ngày 05/9/2023, Nguyễn Thành P điện thoại rủ ông cầm hung khí qua nhà P để đi cùng P qua khu công nghiệp T hỗ trợ anh của P và được ông đồng ý. Khoảng 11 giờ ngày 05/9/2023, ông điều khiển xe mô tô đến nhà P, ông có mang theo 01 túi xách bằng vải màu xanh, ông lấy ra 01 bình xịt hơi cay màu cam đen, 01 cây súng bằng kim loại màu đen loại súng ổ xoay bắn đầu đạn bằng chì cho P xem rồi để lại trong túi. Khoảng 16 giờ phút ngày 06/9/2023, ông chở P đến đợi trước cổng Công ty Q1 để hỗ trợ anh của P. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, khi ông và P đang đứng đợi thì bị lực lượng Đồn Công an khu công nghiệp T huyện Đ phát hiện lập biên bản. Ông không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo P.

Kiểm sát viên sau khi phân tích, đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo Nguyễn Thành P gây ra; căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành P phạm tội “Không tố giác tội phạm”.

Áp dụng khoản 1 Điều 390, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thành P từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Không có, do đó đề nghị không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

- 01 khẩu súng ngắn ổ quay màu đen, thân súng có chữ SMITH&WESSON, ZP-5, MADE IN CHINA; 04 viên đạn màu vàng dài 2,5cm, đầu đạn bằng kim loại màu xám dài 1cm, đế đạn hình tròn đường kính 0,6cm do Nguyễn Hữu N mua của một người không rõ nhân thân, lai lịch trên trên mạng xã hội Youtube vào tháng 05/2022, khi mua trong súng có 06 viên đạn. N đã băn 03 viên đạn tại nhà của N, trong đó 02 viên đã nổ, còn lại 01 viên không nổ nên N lấy ra khỏi ổ đạn bỏ vào trong túi xách của N, trong súng còn lại 03 viên đạn chưa bắn.

- 01 bình xịt hơi cay và 01 roi điện do N mua của một người không rõ nhân thân, lai lịch trên mạng xã hội Youtube vào tháng 02/2023 và 03/2023.

- 02 khóa còng số 8, là do người có tên Lê Hoàng Q, cư trú tại xã H, huyện T, tỉnh Long An tặng cho N.

- Cây gậy bằng kim loại, có quấn băng keo màu đen dài 60cm là cây sắt gài chốt cửa nhà của P, P mang theo để đánh nhau.

Tất cả các vật chứng bị tạm giữ nêu trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Long An đã chuyển đến Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh L xử lý trong vụ án Tàng trữ vũ khí quân dụng, nên không đề cập giải quyết.

Đối với Nguyễn Hữu N có hành vi Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, đang được điều tra, truy tố trong vụ án Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng do Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh L khởi tố theo Quyết định khởi tố vụ án số 01/QĐ-ANĐT ngày 08/01/2024, nên không đề cập giải quyết.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thành P thừa nhận hành vi của mình đúng như Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát đã nêu. Bị cáo không tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng là hối hận về hành vi phạm tội của mình chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm trở về lo làm ăn, sửa đổi để trở thành công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Đ và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, các chứng cứ đã thu thập là có căn cứ, đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2]. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng:

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ông Nguyễn Hữu N có đơn xin vắng mặt. Xét thấy người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án tuy vắng nhưng đã được cơ quan điều tra lấy lời khai làm rõ, vụ án không có tình tiết mâu thuẫn so với lời nhận tội của bị cáo nên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng gì đến phiên tòa. Từ đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt và công bố lời khai của những người tham gia tố tụng vắng mặt theo Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

[2]. Hành vi phạm tội của bị cáo:

[2.1]. Bị cáo Nguyễn Thành P từng tham gia huấn luyện nghĩa vụ quân sự, biết rõ Nguyễn Hữu N có hành vi tàng trữ 01 khẩu súng ngắn ổ quay là vũ khí quân dụng, nhưng không trình báo cơ quan chức năng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo P đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, tài liệu về thời gian, địa điểm, ý kiến của kiểm sát viên. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định bị cáo Nguyễn Thành P phạm tội “Không tố giác tội phạm”, tội phạm và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 390 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và đúng pháp luật.

[2.2]. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thành P là nguy hiểm cho xã hội. Về nhận thức, bị cáo biết rõ hành vi phạm tội do người khác đang thực hiện, nhưng không tố giác tội phạm đó sẽ gây ra khó khăn cho việc điều tra, phát hiện người phạm tội, đồng thời còn gây khó khăn cho việc ngăn chặn kịp thời thiệt hại xảy ra cũng như gây khó khăn cho việc tìm ra, xử lý người phạm tội. Bị cáo có năng lực chịu trách nhiệm hình sự và thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 390, Điều 38 của Bộ luật Hình sự để có mức án tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra; Đồng thời, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện cải tạo và sửa chữa lỗi lầm của mình, trở thành người có ích cho xã hội.

[3]. Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng:

[3.1]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo P thành khẩn khai báo hành vi phạm tội; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự được tặng danh hiệu chiến sĩ tiên tiến và được tặng giấy khen do có thành tích xuất sắc trong công tác đoàn và phong trào thanh niên là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[3.2]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo P không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4]. Về trách nhiệm dân sự: Không có nên không đề cập xem xét.

[5]. Về xử lý vật chứng: Tất cả các vật chứng bị tạm giữ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Long An đã chuyển đến Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh L xử lý trong vụ án Tàng trữ vũ khí quân dụng nên Hội đồng xét xử không xem xét là hoàn toàn phù hợp.

[6]. Đối với Nguyễn Hữu N có hành vi Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, đang được điều tra, truy tố trong vụ án Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng do Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh L khởi tố theo Quyết định khởi tố vụ án số 01/QĐ-ANĐT ngày 08/01/2024, nên không đề cập giải quyết.

[7]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thành P phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành P (B) phạm tội "Không tố giác tội phạm".
  2. Về điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 390, điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành P 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  3. Về xử lý vật chứng: Tất cả các vật chứng bị tạm giữ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Long An đã chuyển đến Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh L xử lý trong vụ án Tàng trữ vũ khí quân dụng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Thành P nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.
  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An;
  • - Cơ quan Điều tra Công an huyện Đức Hòa;
  • - Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa;
  • - Cơ quan thi hành hình sự huyện Đức Hòa;
  • - Sở tư pháp tỉnh Long An;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Nguyễn Hữu Quốc

Thẩm phán

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2024/HS-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về không tố giác tội phạm

  • Số bản án: 75/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Không tố giác tội phạm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: không tố giác tội phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger