|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B THÀNH PHỐ H Bản án số: 75/2024/HSST Ngày 24/04/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B, THÀNH PHỐ H
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Lê Thị Tuyết |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Chu Trần Vĩnh |
| Ông Nguyễn Minh Tú | |
| - Thư ký phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Ngọt, là thư ký Tòa án nhân dân quận B |
| - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B, thành phố H tham gia phiên toà: | Bà Phong Thị Lan - Kiểm sát viên. |
Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận B, thành phố H, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 43/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 03 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2024/QĐ- ST ngày 05 tháng 04 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đặng Hoài N, sinh năm 1974; Giới tính: Nam ; Tên gọi khác: không; HKTT và ở: Số 6 ngõ 230 L, phường T, quận H, thành phố H ; Quốc tịch: Việt Nam ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Đặng Văn B; Con bà: Lê Thị X; Vợ: Đặng Thị H, sinh năm: 1976; Có 01 con sinh năm 1998; Danh bản, chỉ bản số 111 lập ngày 26/01/2024 tại Công an quận B; Tiền án, tiền sự: Tiền án: Không
Tiền sự: Ngày 16/3/2023, Công an quận H ra Quyết định số 139/QĐ-XPHC xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 15 Nghị định 144/NĐ-CP của Chính phủ với hình thức là phạt tiền (2.500.000đồng). N đã nộp phạt. (Chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính).
* Nhân thân:
- - Bản án số 221/HSST ngày 30/6/2004 của TAND quận H, TP H xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đã chấp hành án ra trại ngày 20/01/2006. (Đã xóa án tích)
- - Bản án số 177/HSST ngày 27/5/2009 của TAND thành phố H, TP H xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. (Đã xóa án tích theo NQ số 33/2009/QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc Hội)
- - Bản án số 212/HSST ngày 17/6/2011 của TAND quận Hai Bà Trưng, TP H xử phạt 28 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đã chấp hành án xong ra trại ngày 21/3/2013. (Đã xóa án tích)
- - Bản án số 17/HSST ngày 17/02/2020 của TAND quận Ba Đình, TP H xử phạt 01 năm 04 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đã chấp hành xong ra trại ngày 02/02/2021. Nộp án phí ngày 24/3/2020. (Đã xóa án tích)
- - Ngày 03/6/2002, bị Công an thị trấn Cầu Diễn, huyện Từ Liêm, TP H xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản với hình thức phạt tiền (100.000đồng) (Đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính)
- - Ngày 21/3/2003, bị Công an phường Minh Khai quận Hai Bà Trưng, TP H xử phạt hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy với hình thức phạt tiền (100.000đồng) (Đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính)
- - Ngày 14/3/2019, bị Công an phường Xuân Tảo, quận B, TP H xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản với hình thức phạt tiền (1.500.000đồng) (Đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính)
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 17/01/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – CATP H .
(Có mặt tại phiên tòa)
Người bị hại:
Anh Lê Văn H, sinh 1999
Cư trú: Số nhà 16, ngõ 381phường T, quận B, Thành phố H
(Vắng mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 17/01/2024, tổ công tác CAP Thượng Cát, B, H đang tuần tra trên địa bàn khi đi đến ngõ 39 khu giãn dân tộc Tràng, TDP Thượng Cát, phường Thượng Cát, B, H thì thấy anh Nguyễn Ngọc T (Sinh năm: 1968; HKTT: TDP Thượng Cát 4, P. Thượng Cát, B, H ) tri hô bắt trộm. Tổ công tác đã phối hợp bắt giữ Đặng Hoài N đang trộm cắp 01 máy cắt Dong Chen của anh Lê Văn H (Sinh năm: 1999; HKTT: Thiệu Phúc, Thiệu Hóa, Thanh Hóa), lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng.
Vật chứng thu giữ của Đặng Hoài N :
- - 01 máy cắt nhãn hiệu “Dongcheng” màu xanh nước biển – đen, có hai tay cầm, dài khoảng 40cm đã qua sử dụng;
- - 01 xe máy Honda Airblade màu đen bạc đã qua sử dụng, BKS 29D1 – 95006, số khung: RLHJFG305FZ415319, số máy: JFG3E-1415355.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 48/KL-HĐĐGTS ngày 01/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận B kết luận:
01 máy cắt nhãn hiệu Dong chen mã DSM150A có ốp nhựa hai màu xanh đen, phần dưới của máy cắt có ốp bảo vệ lưỡi cắt đường kính khoảng 10cm (đã qua sử dụng) trị giá 1.200.000đồng.
Quá trình điều tra xác định:
Đặng Hoài N là đối tượng có nhiều tiền án, tiền sự về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 16/3/2023, bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính nhưng do N thường xuyên sử dụng ma túy, không có nghề nghiệp ổn định nên đi đến các khu dân cư để trộm cắp tài sản để lấy tiền tiêu xài. Khoảng 09 giờ ngày 17/01/2024, N điều khiển xe máy Honda Airblade màu đen BKS 29D1 – 950.06 từ nhà tại số 06 ngõ 230 Tổ 24 phường Thanh Lương, Hai Bà Trưng, H đi quanh khu vực H xem có ai sơ hở trong quản lý tài sản để trộm cắp. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến ngõ 39 khu giãn dân tộc Tràng, TDP Thượng Cát, phường Thượng Cát, B, H thì thấy 01 nhà dân đang xây sửa, giữa nhà có 01 máy cắt hiệu Dong Chen của anh Lê Văn H không có người trông coi. Thấy vậy, N dựng xe máy ở ngoài đi vào trong nhà cầm chiếc máy cắt rồi đi ra ngoài thì bị anh Nguyễn Ngọc Thành là hàng xóm phát hiện tri hô bắt giữ cùng vật chứng.
Tại cơ quan điều tra, Đặng Hoài N khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như trên.
Đối với chiếc máy cắt hiệu Dong Chen thu giữ của Đặng Hoài N, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là anh Lê Văn H. Ngày 02/02/2024, cơ quan CSĐT – Công an quận B ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc máy cho anh H. Anh H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì.
Đối với chiếc xe máy Honda Airblade màu đen BKS 29D1 – 95006, qua tra cứu chủ xe là Đặng Hoài N, xe được đăng ký lần đầu năm 2016, N sử dụng xe cho đến nay. Đây là vật chứng của vụ án cần chuyển Chi cục THADS quận B để giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung trên.
Bản cáo trạng số 44/CT - VKS ngày 19/03/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận B quyết định truy tố bị cáo Đặng Hoài N về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1 điều 173; Điều 38; Điểm s, khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù;
Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Vật chứng vụ án: Chiếc xe máy Honda Airblade màu đen đã qua sử dụng, BKS 29D1 – 95006 mang tên Đặng Hoài N là tài sản của bị cáo sử dụng là phương tiện phạm tội nên tịch thu sung công.
Về dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu đề nghị gì khác nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự 200.000 đồng quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1].Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra – Công an quận B ; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì nên hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung: Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu chứng cứ khác, đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 17/01/2024, Đặng Hoài N sử dụng xe máy đi lòng vòng xem ai sơ hở để trộm cắp. Khi đi đến ngõ 39 khu giãn dân tộc Tràng, TDP Thượng Cát, phường Thượng Cát, quận B, Thành phố H, N đã phát hiện thấy 01 máy cắt nhãn hiệu Dong Chen trị giá 1.200.000đồng của anh Lê Văn H không có người trông giữ, N dựng xe máy lén lút cầm chiếc máy cắt ra ngoài, định dùng xe máy để tẩu thoát thì bị bắt quả tang cùng vật chứng. Tuy giá trị tài sản chưa đủ 2.000.000đồng, nhưng ngày 16/3/2023 bị cáo N bị Công an quận H, TP H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” tính đến thời điểm phạm tội chưa hết thời hiệu nên thuộc trường hợp “đã bị xử lý hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm.”. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận B truy tố hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo là thanh niên đang trong độ tuổi lao động, không tìm cho mình một việc làm có thu nhập hợp pháp mà chủ động lợi dụng sự sơ hở của người bị hại, nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội với mục đích chiếm đoạt tài sản, bán lấy tiền tiêu sài cá nhân, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Mặc dù đã được pháp luật giáo dục nghiều lần, nhưng bị cáo không lấy đấy là bài học cho bản thân mà còn tiếp tục phạm tội, nhân thân có 07 tiền án đã được xoá, bị cáo còn có 03 Tiền sự: trong đó 02 tiền sự đã được xóa, 01 tiền sự chưa hết thời hiệu mà còn tiếp tục phạm tội, đủ thấy thái độ coi thường pháp luật của bị cáo. Do vậy, cần áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo, cách ly bị cáo khỏi đời sống chung xã hội một thời gian nhât định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo, răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên Hội đồng xét xử cũng xem xét thái độ của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, thành khẩn khai nhận tội, giá trị tài sản không lớn, đã được thu hồi trả cho người bị hại để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo; Bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[3]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
[4]. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự;
[5]. Về dân sự: Những người bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
[6]. Vật chứng vụ án: Vật chứng vụ án: Chiếc xe máy Honda Airblade màu đen đã qua sử dụng, BKS 29D1 – 95006 mang tên Đặng Hoài N là tài sản của bị cáo, sử dụng là phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung công theo Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[7]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[8]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, những người bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: bị cáo Đặng Hoài N phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Đặng Hoài N 07 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt ngày 17/01/2024.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội;
- Vật chứng vụ án: Tịch thu sung công 01 xe máy kiểu dáng Honda Air blade màu đen bạc, BKS 29 D1 – 95006, số khung RLHJFZ6305FZ415319, số máy: JFG63E – 1415355
(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 126/24 ngày 20/03/2024 giữa cơ quan Cảnh sát Điều tra – Công an quận B với Chi cục Thi hành án dân sự quận B )
- Về dân sự: Không
- Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Tuyết |
Bản án số 75/2024/HSST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B, THÀNH PHỐ H về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 75/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B, THÀNH PHỐ H
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
