Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG ANH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 75/2024/HS-ST

Ngày: 24/4/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Anh Tuấn
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Yêm, Bà Hoàng Thị An
  • Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Xuân Hiếu - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 69/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: LÊ TRUNG Đ, sinh năm 2004; Nơi thường trú: Tổ B, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Sinh viên; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Hải L (đã chết) và bà Hoa Thị Bích L1; Vợ, con; Không có; Tiền án, tiền sự: Không;
  2. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/01/2024 đến nay - Có mặt.
  3. Họ và tên: NGUYỄN TRẦN HOÀNG M, sinh năm 2004; Tổ C, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Mạnh H và bà Trần Thị H1; Vợ, con; Không có; Tiền án, tiền sự: Không;
  4. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/01/2024 đến ngày 09/01/2024 hủy bỏ biện pháp tạm giữ, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú - Có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Anh Trần Doanh C, sinh năm 2002; Nơi thường trú: Khu cầu lớn, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội - Vắng mặt.
  2. Ông Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1978; Nơi thường trú: Tổ C, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội - Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 12 giờ 00 phút ngày 31/12/2023, Tổ công tác Công an xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội làm nhiệm vụ tại khu vực thôn B, xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội tiến hành kiểm tra, khám người, khám phương tiện theo thủ tục hành chính đối với Lê Trung Đ1, Nguyễn Trần Hoàng M và Trần Doanh C, phát hiện tạm giữ của Lê Trung Đ1 02 gói giấy màu trắng bên trong chứa thảo mộc khô nghi là ma túy và bên trong ốp điện thoại di động của Đ1 có 01 túi nilon kích thước (8x8)cm bên trong chứa thảo mộc khô nghi là ma túy. Tổ công tác đã lập biên bản tạm giữ, niêm phong vật chứng rồi đưa Đ1 và M về trụ sở để tiếp tục điều tra làm rõ. Xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu đối với Lê Trung Đ1; Nguyễn Trần Hoàng M và Trần Doanh C đều âm tính với chất ma túy.

Ngoài ra cơ quan Công an còn tạm giữ:

  • Tạm giữ của với Lê Trung Đ1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max, màu vàng, ốp màu đen, lắp sim số thuê bao 0917545007; xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS: 29L5-369.83, màu xanh.
  • Tạm giữ của Nguyễn Trần Hoàng M: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12, lắp sim số thuê bao 0867560904.
  • Tạm giữ của Trần Doanh C: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia N1110i màu đen trắng, lắp số thuê bao 0968431904

Căn cứ vào lời khai nhận của Lê Trung Đ1, Nguyễn Trần Hoàng M và Trần Doanh C cùng các tài liệu điều tra thu thập được có đủ cơ sở xác định nội dung vụ án như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy, vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 31/12/2023, Trần Doanh C sử dụng ứng dụng Messenger Facebook tên “Vinh N” nhắn tin đến tài khoản Facebook “Lê Trung Đ1” của Lê Trung Đ1 đặt mua 500.000 đồng tiền ma túy Tobaco. Đ1 đồng ý và yêu cầu C chuyển khoản số tiền 560.000 đồng (bao gồm 500.000 đồng tiền ma túy và 60.000 đồng tiền công vận chuyển) vào số tài khoản 19037225724018 của Đ1 tại ngân hàng T. C đồng ý và hẹn địa điểm giao nhận ma túy tại khu vực cây xăng thuộc địa phận thôn B, xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Sau đó, C đến cửa hàng bán điện thoại “Đức Cảnh” ở thôn B, xã K, huyện Đ nhờ anh Nguyễn Văn Đ2, sinh năm 2000 (Nơi thường trú: Khu phố D, Thị trấn B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở: Thôn B, xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội) nhờ chuyển khoản số tiền 560.000 đồng đến số tài khoản trên cho Lê Trung Đ1.

Sau khi thỏa thuận xong, Lê Trung Đ1 ra quán ngồi uống nước với Nguyễn Trần Hoàng M, Đ1 kiểm tra tài khoản thấy C chuyển tiền nên bảo M cùng đi có việc sẽ đổ xăng cho xe của M và cho tiền uống nước, M đồng ý. Sau đó, Đ1 điều khiển xe máy BKS: 29L5-369.83 của M, chở M đến khu vực phường L, quận B, thành phố Hà Nội. Trên đường đi Đ1 nói với M về việc C đặt mua ma tuý của Đ1 và đã chuyển 560.000 đồng bao gồm cả tiền công vận chuyển cho Đ1 mua ma túy Tobaco, M trả lời “ừ”.

Khi đi đến khu vực phường L, quận B, thành phố Hà Nội, M đứng chờ ở sân tập thể dục, Đ1 đi tiếp khoảng 300-400m thì gọi điện thoại từ số điện thoại của Đ1 đến số điện thoại 0865.884.xxx của một người nam giới (Đ1 không rõ nhân thân, lai lịch) giao dịch mua 02 gói ma túy Tobaco với giá 250.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Đ1 quay lại chỗ M nói đã mua được ma túy Tobaco và tiếp tục chở M về huyện Đ giao ma túy. Khi đến khu vực cầu T, Đ1 dừng xe cắt một phần ma túy trong một gói giấy cho vào túi ni lông để trong ốp điện thoại sau đó chở M đến điểm hẹn gặp C. Khi Đ1 chuẩn bị giao ma túy Tobaco cho C thì bị lực lượng công an kiểm tra phát hiện bắt giữ.

Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định số thảo mộc khô thu giữ. Tại bản Kết luận giám định số 307/KL-KTHS ngày 09/01/2024 của Phòng K, Công an thành phố H, kết luận:

  • Thảo mộc khô bên trong 02 gói giấy màu trắng đều có ma túy loại MDMB-4en-PINACA, tổng khối lượng: 3,909 gam.
  • Thảo mộc khô bên trong 01 túi ni lông có ma túy loại MDMB-4en-PINACA, khối lượng: 0,332 gam.

Tại bản Kết luận giám định số 632/KL-KTHS ngày 02/02/2024, V, Bộ C1 kết luận:

  • Hàm lượng chất ma túy MDMB-4en-PINACA trong mẫu thảo mộc khô đựng trong túi nilon là 0,03%.
  • Hàm lượng chất ma túy MDMB-4en-PINACA trong mẫu thảo mộc khô đựng trong gói giấy là 0,03%.

Tại Cơ quan điều tra, Lê Trung Đ1 và Nguyễn Trần Hoàng M khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với tài liệu điều tra thu thập được. Đ1 khai nhận mục đích bán ma túy cho C nhằm hưởng lợi số tiền 250.000 đồng tiền chênh lệch giá mua, giá bán và 60.000 đồng tiền vận chuyển. Còn số ma tuý Đ1 cắt lại để sau vỏ ốp điện thoại mục đích để bán lại cho khách nếu có nhu cầu mua. M khai nhận, M biết Đ1 đi mua ma túy Tobaco để bán cho khách nhưng vẫn tiếp tục giao xe cho Đ1 chở đi, nếu bán được ma túy, Đ1 sẽ cho M 10.000 đồng đổ xăng và cho 10.000 đồng tiền uống nước.

Đối với Trần Doanh C đã có hành vi đặt mua ma tuý của Đ1 nhưng chưa thực hiện được việc giao nhận ma tuý, xét nghiệm ma túy trong nước tiểu của Chính âm tính với chất ma túy trong cơ thể, do vậy Cơ quan điều tra không đề cập xử lý. Đối với anh Nguyễn Văn Đ2, việc C nhờ anh Đ2 chuyển khoản số tiền 560.000 đồng đến số tài khoản của Lê Trung Đ1, anh Đ1 không biết mục đích, không liên quan đến hành vi phạm tội trong vụ án nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý. Đối với anh Nguyễn Tiến M1, sinh năm 1985 (Nơi thường trú: Số H ngách B, phố Đ, phường L, quận B, thành phố Hà Nội) là chủ số thuê bao 0865884914. Lê Trung Đ1 khai đã liên hệ và mua ma túy của người nam giới (không rõ nhân thân lai lịch, không nhận dạng được) sử dụng số điện thoại trên. Tại Cơ quan điều tra anh M1 khai có đăng ký số điện thoại trên nhưng đã không sử dụng và vứt bỏ từ khoảng giữa năm 2023, ngày 31/12/2023 anh không bán ma tuý cho ai. Quá trình điều tra, ngoài lời khai của Lê Trung Đ1, không còn tài liệu nào khác chứng minh anh M1 có liên quan đến vụ án, do vậy Cơ quan điều tra không đề cập xử lý. Đối với người nam giới đã bán ma túy cho Đ1, Đ1 khai khi giao dịch mua ma tuý người này đội mũ, mặc áo chống nắng dài tay và đeo khẩu trang nên Đ1 không nhận diện được, ngoài lời khai của Đ1 không còn tài liệu nào khác nên không có căn cứ xác minh làm rõ.

Đối với 01 phong bì niêm phong dán kín, có chữ ký của giám định viên, cán bộ niêm phong và dấu đỏ của V, Bộ C1 bên trong có 1,964 gam mẫu thảo mộc khô chứa chất ma túy MDMB-4en-PINACA (sau trích mẫu giám định 2,277 gam) và vỏ bao gói mẫu; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS: 29L5-36983; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax, màu vàng, lắp sim số thuê bao 0917545007 có lắp ốp điện thoại tạm giữ của Lê Trung Đ1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 lắp sim số thuê bao 0867560904 tạm giữ của Nguyễn Trần Hoàng M; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1110i, màu đen trắng lắp sim số thuê bao 0968431904 tạm giữ của Trần Doanh C là vật chứng của vụ án, chuyển Tòa án nhân dân huyện Đông Anh giải quyết theo thẩm quyền.

Cáo trạng số 67/CT-VKSÐA ngày 03/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội truy tố các bị cáo Lê Trung Đ1 và Nguyễn Trần Hoàng M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo Lê Trung Đ1 và Nguyễn Trần Hoàng M khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, các bị cáo rất ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình và xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về với gia đình và xã hội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật như cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Trung Đ1 mức án từ 26 tháng đến 28 tháng tù;
  • Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Trần Hoàng M mức án từ 24 tháng đến 26 tháng tù.
  • Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với các bị cáo.
  • Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ số ma tuý thu giữ của các bị cáo, tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước 03 điện thoại di động và trả lại ông Nguyễn Mạnh H 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS: 29L5-36983.
  • Đề nghị quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng các bị cáo trình bày: Các bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên toà, các bị cáo Lê Trung Đ1 và Nguyễn Trần Hoàng M khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Hội đồng xét xử xét thấy: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với nhau; phù hợp với lời khai của người mua ma túy là Trần Doanh C; phù hợp Biên bản khám người theo thủ tục hành chính, Biên bản kiểm tra nhật ký điện thoại, Facebook, thông tin chuyển khoản, Sơ đồ hiện trường, Kết luận giám định chất ma túy cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 31/12/2023, tại khu vực thôn B, xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội các bị cáo Lê Trung Đ1 và Nguyễn Trần Hoàng M đã có hành vi bán trái phép thảo mộc khô có chứa chất ma tuý loại MDMB-4en-PINACA, tổng khối lượng là 3,909 gam và hàm lượng là 0,03%; ngoài ra, bị cáo Lê Trung Đ1 còn có hành vi cất giấu trong ốp điện thoại 0,332 gam thảo mộc khô có chứa chất ma túy loại MDMB-4en-PINACA, hàm lượng là 0,03% với mục đích bán cho khách để kiếm lời thì bị cơ quan công an phát hiện bắt giữ.

MDMB-4en-PINACA là chất ma túy số 241 – IIC trong Danh mục II các chất ma túy ban hành kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. Do đó, hành vi mua bán trái phép 4,241 gam ma túy loại MDMB-4en-PINACA của các bị cáo đã phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội truy tố các bị cáo cáo Lê Trung Đ1 và Nguyễn Trần Hoàng M về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật, đúng người và đúng tội.

Nội dung điều luật quy định:

  1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

[3] Xét tính chất đồng phạm và vai trò của từng bị cáo trong vụ án xét thấy: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo là bạn học cũ. Bị cáo Đ1 là người liên hệ với khách mua, trực tiếp đi mua ma tuý, giao dịch mua bán với khách mua nên có vai trò chính; Bị cáo M sau khi biết Đ1 mua bán ma tuý đã tiếp nhận ý chí, giúp sức cho Đ1 đi mua bán ma tuý để được hưởng tiền đổ xăng và uống nước nên cùng đồng phạm giúp sức và có vai trò thấp hơn bị cáo Đ1.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, đã ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự; Bị cáo M có ông nội, bà nội tham gia kháng chiến, được tặng thưởng Huy chương, Bằng khen nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự. Về nhân thân: Các bị cáo không có tiền án, tiền sự nên được xác định là có nhân thân tốt.

[5] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy. Ma túy là chất gây nghiện, tạo ảo giác, khiến người sử dụng không kiểm soát được bản thân, gây nguy hiểm đến tính mạng và sức khoẻ của người sử dụng, làm lây lan các căn bệnh xã hội nguy hiểm và là nguyên nhân phát sinh một số loại tội phạm. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật hình sự nhưng do tham lam tư lợi, các bị cáo vẫn cố ý phạm tội nên cần xét xử nghiêm các bị cáo theo quy định của pháp luật hình sự, cần xử phạt các bị cáo hình phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo và có tác dụng phòng ngừa tội phạm ma túy nói riêng và các tội phạm khác nói chung. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử đã xem xét đầy đủ về vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo; về loại ma túy, hàm lượng chất ma tuý các bị cáo mua bán; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự các bị cáo được hưởng và nhân thân hoàn cảnh gia đình của từng bị cáo trong vụ án để giảm nhẹ một phần hình phạt và cá thể hóa hình phạt đối với mỗi bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Đ1 là người có ma túy, trực tiếp giao dịch mua bán hưởng lợi, có vai trò chính nên phải chịu mức hình phạt cao hơn; bị cáo M không bàn bạc trước, tiếp nhận ý chí, giúp sức bị cáo Đ1 mua bán ma túy nên xử phạt mức hình phạt thấp hơn bị cáo Đ1.

[6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Đối với anh Trần Doanh C đã có hành vi đặt mua ma tuý của Đ1 nhưng chưa thực hiện được việc giao nhận ma tuý, xét nghiệm ma túy trong nước tiểu của Chính âm tính với chất ma túy trong cơ thể, do vậy Cơ quan điều tra không đề cập xử lý; đối với anh Nguyễn Văn Đ2 chuyển khoản số tiền 560.000 đồng đến số tài khoản của Lê Trung Đ1, anh Đ1 không biết mục đích, không liên quan đến hành vi phạm tội trong vụ án nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý; đối với anh Nguyễn Tiến M1 là chủ số thuê bao 0865884914 Đức khai đã liên hệ và mua ma túy, quá trình điều tra, ngoài lời khai của Đ1, không còn tài liệu nào khác chứng minh anh M1 có liên quan đến vụ án, do vậy Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ. Đối với người nam giới đã bán ma túy cho Đ1, Đ1 khai không nhận diện được, ngoài lời khai của Đ1 không còn tài liệu nào khác nên không đủ căn cứ xác minh làm rõ.

[8] Về xử lý vật chứng: Đối với số lượng ma túy thu giữ của các bị cáo là chất cấm lưu hành cần tịch thu, tiêu hủy; đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax, màu vàng, kèm sim thu giữ của Lê Trung Đ1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 kèm sim thu giữ của Nguyễn Trần Hoàng M; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1110i, màu đen trắng kèm sim thu giữ của Trần Doanh C sử dụng vào việc liên lạc mua bán chất ma tuý là công cụ, phương tiện phạm tội cần tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước. Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS: 29L5-36983 là tài sản của ông Nguyễn Mạnh H là bố của bị cáo M. M tự ý lấy xe sử dụng vào việc mua bán chất ma tuý ông H không biết, xe máy trên là phương tiện đi lại, kiếm sống của gia đình ông H nên cần trả lại ông H.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Lê Trung Đ1 và Nguyễn Trần Hoàng M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ vào: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Bị cáo Lê Trung Đ1 27 (hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/01/2024

- Căn cứ vào: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trần Hoàng M 24 (hai mươi tư) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 01/01/2024 đến ngày 09/01/2024.

Căn cứ vào: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong dán kín, có chữ ký của giám định viên, cán bộ niêm phong và dấu đỏ của V, Bộ C1 bên trong có 1,964 gam mẫu thảo mộc khô chứa chất ma túy MDMB-4en-PINACA (đã trích mẫu giám định) có đặc điểm, tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/4/2024 giữa Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh.

Tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax, màu vàng, lắp sim số 0917545007 có lắp ốp điện thoại; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12, lắp sim số 0867560904; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1110i, lắp sim số 0968431904 có đặc điểm, tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/4/2024 giữa Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh.

Trả lại ông Nguyễn Mạnh H 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS: 29L5-36983 có đặc điểm, tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/4/2024 giữa Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh.

Về án phí: Các bị cáo Lê Trung Đ1 và Nguyễn Trần Hoàng M mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - VKSND huyện Đông Anh;
  • - Công an huyện Đông Anh;
  • - Chi cục THADS huyện Đông Anh;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự;
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Anh Tuấn

(Đã ký)

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 75/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Trung Đ và đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger