Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THÁP MƯỜI

TỈNH ĐỒNG THÁP

Bản án số: 75/2023/HS-ST

Ngày: 23 – 10 – 2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Lê Duy Khánh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Thanh Minh Hiền.

2/ Ông Đào Văn Hiến.

Thư ký phiên tòa: Ông Hứa Quang Trung - Cán bộ Tòa án huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Hữu Hậu - Kiểm sát viên.

Ngày 23/10/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 67/2023/TLST-HS, ngày 02 tháng 10 năm 2023; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2023/QĐXXST - HS, ngày 10 tháng 10 năm 2023, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên Cao Vũ Đ (Đ), sinh năm 1989; nơi cư trú khóm A, thị trấn M, huyện T, Đồng Tháp; nghề nghiệp làm thuê; trình độ học vấn 12/12; dân tộc kinh; giới tính nam; tôn giáo không; quốc tịch Việt Nam; con ông Cao Văn T, sinh năm 1966; con bà Đặng Thị P, sinh năm 1964; vợ Võ Thị Huỳnh N, sinh năm 1993 (đã ly hôn), con có 01 con sinh năm 2019; tiền án; tiền sự: không, tạm giữ từ ngày 12/02/2023, tạm giam từ ngày 18/02/2023 (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

2. Họ và tên Đỗ Hoàng A, sinh năm 2000; nơi cư trú ấp A, xã T, huyện T, Đồng Tháp; nghề nghiệp không; trình độ học vấn 9/12; dân tộc kinh; giới tính nam; tôn giáo không; quốc tịch Việt Nam; con ông Đỗ Văn B, sinh năm 1979; con bà Lê Thị Đ2, sinh năm 1979; vợ, con không; tiền án; tiền sự: không, tạm giữ từ ngày 12/02/2023, tạm giam từ ngày 18/02/2023 (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

3. Họ và tên Trần Hoàng N1, sinh năm 1987; nơi cư trú ấp E, xã Đ, huyện T, Đồng Tháp; nghề nghiệp làm thuê; trình độ học vấn 9/12; dân tộc kinh; giới tính

nam; tôn giáo không; quốc tịch Việt Nam; con ông Trần Văn Đ3, sinh năm 1970; con bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1966; vợ Nguyễn Thị Trúc M, sinh năm 1991 (đã ly hôn), con có 02 con lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án; tiền sự: không, tạm giữ; tạm giam không; bị cáo N1 bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú trong giai đoạn điều tra (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

* Người làm chứng:

  1. 2.4. Nguyễn Nhựt H, sinh năm 2004 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Ấp B, xã M, huyện T, Đồng Tháp.
  2. 2.5. Nguyễn Thị Như N2, sinh năm 2001 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện T, Đồng Tháp.
  3. 2.6. Phạm Yến N3, sinh năm 2001 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện T, Đồng Tháp.
  4. 2.7. Nguyễn Nhựt K1, sinh năm 1999 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Ấp C, xã M, huyện T, Đồng Tháp.
  5. 2.8. Lưu Thị Quỳnh N4, sinh năm 2004 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Ấp C, xã Đ, huyện T, Đồng Tháp.
  6. 2.9. Nguyễn Thị Thu S, sinh năm 1982 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Khóm A, thị trấn M, huyện T, Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 11-02-2023, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Đ phối hợp Công an huyện T và Công an thị trấn M phát hiện bị cáo Đỗ Hoàng A đang có hành vi bán 1,245 gam ma túy loại MDMA và 1,108 gam ma túy loại Ketamine (Theo Bản kết luận giám định số 179/KL-KTHS ngày 14-02-2023 của Phòng K2 Công an tỉnh Đ) với tổng số tiền 3.900.000 đồng cho bị cáo Trần Hoàng N1 tại Khách sạn N5 tọa lạc khóm C, thị trấn M, huyện T nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng.

Căn cứ lời khai của bị cáo A, tiếp tục khám xét nơi ở của bị cáo Cao Vũ Đ tại cửa hàng bán điện thoại di động Đại Tài 2 thuộc khóm C, thị trấn M, huyện T thu giữ tại vị trí để bản hiệu phía trước bên trái căn nhà 3,285 gam ma túy loại

Ketamine và 12,304 gam ma túy loại MDMA (Theo Bản kết luận giám định số 179/KL-KTHS ngày 14-02-2023 của Phòng K2 Công an tỉnh Đ).

Bị cáo Đ khai nhận, số ma túy này tàng trữ nhằm bán trái phép cho người khác (Bút lục: 01-06, 73-81).

Kết quả điều tra chứng minh được, nguồn gốc ma túy bị thu giữ lúc bắt quả tang và tại cửa hàng bán điện thoại đi động Đại Tài 2 là của bị cáo Đ mua của một người không rõ nhân thân qua ứng dụng Telegram từ đầu tháng 01-2023 với giá 14.000.000 đồng để chia nhỏ bán cho các đối tượng nghiện trên địa bàn thị trấn M, huyện T. Thông qua tài khoản Zalo tên “Đại Tài Mobile”, bị cáo Đ đã liên lạc bán ma túy nhiều lần cho nhiều người. Trong những lần đó, bị cáo A giúp sức đi giao ma túy. Cụ thể như sau:

Lần thứ nhất, vào cuối tháng 01-2023, một người phụ nữ tên T1 không rõ nhân thân liên hệ với bị cáo Đ qua tài khoản Zalo tên “Đại Tài M1” hỏi mua ma túy loại Ketamine với giá 3.000.000 đồng. Đồng ý bán, Đ đưa ma túy cho A mang đến khách sạn Đ4 tọa lạc khóm A, thị trấn M giao cho T1 và lấy tiền đem về giao lại cho Đ.

Lần thứ hai, khoảng 21 giờ ngày 08-02-2023, Nguyễn Nhựt H liên lạc với bị cáo Đ qua tài khoản Zalo tên “Đại Tài M1” để hỏi mua ma túy loại Ketamine với giá 1.200.000 đồng và ma túy loại MDMA với giá 300.000 đồng. Đồng ý bán, Đ đưa ma túy cho A đem giao cho H và lấy tiền tại khách sạn N5 tọa lạc khóm C, thị trấn M, huyện T.

Lần thứ ba, khoảng 22 giờ ngày 11-02-2023, bị cáo Trần Hoàng N1 liên lạc với Đ qua tài khoản Zalo tên “Đại Tài M1” để hỏi mua ma túy loại MDMA với giá 900.000 đồng và ma túy loại Ketamine với giá 3.000.000 đồng. Đồng ý bán, Đ đưa ma túy cho A đem giao cho N1 và lấy tiền tại khách sạn N5 tọa lạc khóm C, thị trấn M, huyện T. Khi bị cáo A chuẩn bị lấy ma túy đưa cho bị cáo N1 thì bị bắt quả tang, chưa nhận được tiền.

Ngoài ra, bị cáo Đ tự khai nhận, vào cuối tháng 01-2023, tại tiệm điện thoại di động Đại Tài 2 thuộc khóm C, thị trấn M, huyện T, Đ bán ma túy loại Ketamine cho một người tên T2 không rõ nhân thân với giá 2.700.000 đồng.

Đối với Nguyễn Nhựt H và Trần Hoàng N1 là tiếp tân của khách sạn N5, quá trình điều tra H và N1 khai mua ma túy giúp khách đang thuê phòng tại Khách sạn nhưng không xác định được nhân thân người nhờ mua hộ. Khi khách đến thuê phòng, cả H và N1 đều không ghi thông tin khách hàng vào sổ lưu trú nên không xác định được nhân thân, lai lịch của những người này.

Như vậy, kết quả điều tra chứng minh được, trong khoảng thời gian từ cuối tháng 01-2023 đến ngày 11-02-2023, bị cáo Đ và bị cáo A đã bán trái phép chất ma

túy cho người khác 03 lần với tổng số tiền sử dụng vào việc mua bán là 4.500.000 đồng.

Căn cứ vào khối lượng các chất ma túy thu giữ và quy định tại khoản 2 và 3 Điều 5 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02-02-2018 của Chính phủ Quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 xác định được:

- Cao Vũ Đ: Ketamine có khối lượng 4,393 gam chiếm 4,3%, MDMA có khối lượng 13,549 gam chiếm 45,1%. Tổng tỷ lệ phần trăm của 02 chất ma túy là 49,4% thuộc trường hợp quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

- Trần Hoàng N1: 1,245 gam ma túy loại MDMA chiếm 24,9% và 1,108 gam ma túy loại Ketamine chiếm 5,5%. Tổng tỷ lệ phần trăm của 02 chất ma túy là 30,4% thuộc trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự (Bút lục: 105-155).

Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ các vật chứng, tài sản là vật cấm tàng trữ, lưu hành hoặc được dùng vào việc phạm tội, gồm:

  • 01 túi nylon nắp kẹp viền xanh bên trong chứa 03 viên nén màu nâu vàng và nhiều tinh thể rắn màu trắng được niêm phong trong bì thư số 01 ngày 11-02-2023.
  • 01 bao nylon màu trắng bên trong có 01 túi nylon màu đen có quai xách chứa 01 cái hộp bằng nhựa màu đen có hoa văn màu xanh. Kiểm tra bên trong hộp có:
    • + 02 túi nylon màu trắng khóa kẹp màu xanh chứa tinh thể rắn màu trắng.
    • + 01 túi nylon màu trắng có khóa kẹp màu xanh bên trong có 02 mãnh vỡ viên nén màu nâu vàng.
    • + 01 túi nylon màu trắng có khóa kẹp màu đỏ bên torng có chứa 30 viên nén màu nâu vàng.
    • + 01 điện thoại di động IPhone màu vàng gắn sim số 0767956008 của Đỗ Hoàng A.
    • + 01 điện thoại di động IPhone màu vàng gắn sim số 0944100118 của Cao Vũ Đ.

Ngoài ra, còn tạm giữ 01 điện thoại di động Samsung màu đen gắn sim số 0974361281 của Trần Hoàng N1 không liên quan đến việc phạm tội (Bút lục: 01-06).

Tại Bản Cáo trạng số: 63/CT - VKSTM, ngày 02 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát huyện T, đã truy tố:

+ Bị cáo Cao Vũ Đ đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

+ Bị cáo Đỗ Hoàng A đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

+ Bị cáo Trần Hoàng N1 đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Bị cáo Đ, bị cáo A, bị cáo N1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Bản cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát huyện T thực hiện quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội đã đưa ra những chứng cứ, lý lẽ kết tội đối với bị cáo. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, căn cứ nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh:

  • + Căn cứ điểm b, p khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Cao Vũ Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy.
  • + Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đỗ Hoàng A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • + Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Hoàng N1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về hình phạt:

Căn cứ Điều 17, Điều 38, điểm b, p khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Đ từ 09 năm đến 10 năm tù.

Căn cứ Điều 17, Điều 38, điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo A từ 07 năm đến 08 năm tù.

Căn cứ Điều 57, Điều 38, điểm i khoản 1 Điều 149, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo N1 từ 09 tháng đến 01 năm tù.

Căn cứ khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015:

Phạt bổ sung bị cáo Đ từ 10.000.000 đồng – 20.000.000 đồng;

Phạt bổ sung bị cáo A từ 5.000.000 đồng – 10.000.000 đồng.

Về biện pháp tư pháp: Đã giải quyết xong.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tuyên xử:

  • + Tịch thu tiêu hủy: Mẫu viên nén màu nâu vàng (Ký hiệu M1) trong bì thư ký hiệu số 01 còn lại sau giám định có khối lượng 1,003 gam; mẫu tinh thể rắn (Ký hiệu M2) trong bì thư ký hiệu số 01 còn lại sau giám định có khối lượng 0,955 gam; mậu tinh thể rắn (Ký hiệu M3) trong bì thư ký hiệu K còn lại sau giám định có khối lượng 3,135 gam; mẫu viên nén (Ký hiệu M4) trong bì thư ký hiệu K còn lại sau giám định có khối lượng 0,235 gam; mẫu viên nén (Ký hiệu M5) trong bì thư ký hiệu K còn lại sau giám định có khối lượng 11,1498 gam và 01 cái hộp bằng nhựa màu đen có hoa văn màu xanh.
  • + Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Iphone màu vàng gắn sim số 0944100118 của Cao Vũ Đ, 01 điện thoại di động Samsung màu đen gắn sim số 0974361281 của Trần Hoàng N1 dùng vào việc phạm tội.
  • + Tiếp tục tạm giữ 01 điện thoại di động IPhone màu vàng gắn sim số 0767956008 của Đỗ Hoàng A để đảm bảo thi hành án.

Luật sư Nguyễn Văn V là người bào chữa cho bị cáo Đ trình bày những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và đề nghị hội đồng xét xử xem xét áp dụng hình phạt tù cho bị cáo Đ nhẹ hơn mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để bị cáo có thời gian chăm sóc cho con nhỏ và cha mẹ già.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo biết lỗi, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung:

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Đ, bị cáo V1, bị cáo N1 thừa nhận hành vi phạm tội được mô tả trong bản Cáo trạng số 63/CT – VKSTM, ngày 02 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười là đúng với hành vi phạm tội.

[2.1] Tại phiên tòa, bị cáo Đ khai khoảng đầu tháng 01-2023, bị cáo Đ mua của một người không rõ nhân thân qua ứng dụng Telegram từ đầu tháng 01-2023 với giá 14.000.000 đồng để chia nhỏ bán cho các đối tượng nghiện trên địa bàn thị trấn M, huyện T.

Lần thứ nhất, vào cuối tháng 01-2023, một người phụ nữ tên T1 không rõ nhân thân liên hệ với bị can Đ qua tài khoản Zalo tên Đại Tài M hỏi mua ma túy loại Ketamine với giá 3.000.000 đồng. Đồng ý bán, Đ đưa ma túy cho A đem đến Khách sạn Đ4 tọa lạc khóm A, thị trấn M giao cho T1 và lấy tiền đem về giao lại cho Đ.

Lần thứ hai, khoảng 21 giờ ngày 08-02-2023, Nguyễn Nhựt H liên lạc với Đ qua tài khoản Zalo tên Đại Tài M2 để hỏi mua ma túy loại Ketamine với giá 1.200.000 đồng và ma túy loại MDMA với giá 300.000 đồng. Đồng ý bán, Đ đưa ma túy cho A đem giao cho H và lấy tiền tại Khách sạn N5 tọa lạc khóm C, thị trấn M, huyện T.

Lần thứ ba, khoảng 22 giờ ngày 11-02-2023, bị can Trần Hoàng N1 liên lạc với Đ qua tài khoản Zalo tên Đại Tài M để hỏi mua ma túy loại MDMA với giá 900.000 đồng và ma túy loại Ketamine với giá 3.000.000 đồng. Đồng ý bán, Đ đưa ma túy cho A đem giao cho N1 và lấy tiền tại Khách sạn N5 tọa lạc khóm C, thị trấn M, huyện T. Khi A chuẩn bị lấy ma túy đưa cho N1 thì bị bắt quả tang, chưa nhận được tiền.

[2.2] Tại phiên tòa, bị cáo A thừa nhận cả 03 lần đều giao ma túy cho bị cáo Đ.

Lần thứ nhất, cuối tháng 01/02/2023, bị cáo nhận ma túy từ bị cáo Đ và mang ma túy đến khách sạn Đ4 giao cho người phụ nữ tên T1 và lấy 3.000.000 đồng về giao lại cho Đ.

Lần thứ nhất, khoảng 21 giờ ngày 08/02/2023, bị cáo nhận ma túy từ bị cáo Đ và mang ma túy đến khách sạn N5 giao cho H và lấy 1.500.000 đồng về giao lại cho Đ.

Lần thứ nhất, khoảng 22 giờ ngày 11/02/2023, bị cáo nhận ma túy từ bị cáo Đ và mang ma túy đến khách sạn N5 giao cho N1 thì bị lục lượng chức năng bắt quả tang.

[2.3] Tại phiên tòa, bị cáo N1 thừa nhận liên lạc với Đ qua tài khoản zalo

Đại Tài Mobile để mua ma túy cho khách thuê phòng tại khách sạn N5 thì bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt quả tang. Nhuận không có thông tin khách thuê phòng vì khi khách gọi nhờ mua ma túy dùm là điện vào số điện thoại bàn của khách sạn.

Bị cáo N1 thừa nhận ngày 11/02/2023, có liên hệ với bị cáo Đ hỏi mua ma túy với giá 3.900.000 đồng cho khách thuê phòng.

Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

[3] Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười truy tố bị cáo Đ, bị cáo A về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 như sau:

“Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

p) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm h đến điểm o khoản này;

...".

[4] Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười truy tố bị cáo N1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 như sau:

“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.

...".

[4] Hành vi của bị cáo Đ, bị cáo A, bị cáo N1 là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy và gây mất trật tự trị an ở địa phương.

Tội phạm do các bị cáo thực hiện có tính đồng phạm với tinh chất đơn giản. Bị cáo Đ phải chịu trách nhiệm chính với vai trò cua người thực hành, khởi xướng. Bị cáo A phải chịu trách nhiệm với vai trò cua người thực hành và giúp sức tích cực.

Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử tại phiên tòa hôm nay là cần thiết, nhằm cách ly các bị cáo một thời gian nhất định, để các bị cáo có điều kiện học tập, cải tạo trở thành công dân tốt và sống có ích cho xã hội.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[6] Về tình tình giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Đ có ông nội “Cao Văn T3”; cô ruột “Cao Thị L”; cậu ruột “Cao Văn T4” được Bộ chứng nhận tham gia dân công hỏa tuyến; có cậu ruột “Đặng Văn H1” được tặng huân chương chiến công hạng ba. Bản thân bị cáo Đ tự nguyện nộp số tiền 4.500.000 đồng sử dụng vào việc mua bán trái phép chất ma túy để nộp ngân sách nhà nước.

Bị cáo An tự mình nhận tội và khai ra những lần phạm tội khác mà chưa bị phát hiện theo quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và có ông ngoại “Lê Thanh H2” được trao tặng huận chương kháng chiến kháng chiến chống mỹ hạng nhì.

Bị cáo N1 có ông nội “Trần Văn M3” được Bộ tư lệnh Quân khu 9 chứng nhận tham gia dân công hỏa tuyến; có ông là “Nguyễn Văn T5” được tặng huân chương chiến sĩ giải phóng hạng nhì; đồng thời Nhuận có công góp sức tích cực cùng chính quyền địa phương hỗ trợ các tuyến làm nhiệm vụ phòng chống dịch Covid - 19 tại địa phương.

Do đó, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo Hội đồng xét xử xem xét.

[7] Đối với người bán trái phép chất ma túy cho Đ đến nay không xác định được nhân thân, lai lịch nên tách ra khỏi vụ án này, khi có căn cứ sẽ xem xét xử lý sau.

Đối với lời khai của bị cáo Đ về việc bán ma túy cho người tên T2 vào cuối tháng 01-2023 với giá 2.700.000 đồng, ngoài lời khai nhận tội của bị cáo không còn chứng cứ khác để chứng minh nên tách khỏi vụ án để tiếp tục xem xét xử lý sau khi có căn cứ.

Đối với lời khai của Nguyễn Nhựt H và Trần Hoàng N1 về việc mua ma túy hộ người khác nhưng không rõ nhân thân của những người này. Quá trình điều tra bị can ĐA khai nhận, H và N1 là những người trực tiếp liên lạc để mua ma túy nên không có cơ sở để xác định việc mua ma túy hộ

[8] Đối với H có mua ma túy của Đ nhưng không thu giữ được ma túy để xác định khối lượng cụ thể nên không có căn cứ để xử lý.

[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Cao Vũ Đ, Đỗ Hoàng A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Trần Hoàng N1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ Điều 17, Điều 38, điểm b, p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

2. Xử phạt bị cáo Cao Vũ Đ 08 (tám) năm 03 (ba) tháng tù.

Căn cứ Điều 17, Điều 38, điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

3. Xử phạt bị cáo Đỗ Hoàng A 07 (bảy) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo Đ, bị cáo A bị tạm giữ 12/02/2023.

Căn cứ Điều 57, Điều 38, điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

4. Xử phạt bị cáo Trần Hoàng N1 09 (chín) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo N1 chấp hành án.

5. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Bị cáo Đ phạt bổ sung 15.000.000 đồng.

Bị cáo An phạt bổ sung 5.000.000 đồng.

6. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy: Mẫu viên nén màu nâu vàng (Ký hiệu M1) trong bì thư ký hiệu số 01 còn lại sau giám định có khối lượng 1,003 gam; mẫu tinh thể rắn (Ký hiệu M2) trong bì thư ký hiệu số 01 còn lại sau giám định có khối lượng 0,955 gam; mậu tinh thể rắn (Ký hiệu M3) trong bì thư ký hiệu K còn lại sau giám định có khối lượng 3,135 gam; mẫu viên nén (Ký hiệu M4) trong bì thư ký hiệu K còn lại sau giám định có khối lượng 0,235 gam; mẫu viên nén (Ký hiệu M5) trong bì thư ký hiệu K còn lại sau giám định có khối lượng 11,1498 gam và 01 cái hộp bằng nhựa màu đen có hoa văn màu xanh.
  • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Iphone màu vàng gắn sim số 0944100118 của Cao Vũ Đ, 01 điện thoại di động Samsung màu đen gắn sim số 0974361281 của Trần Hoàng N1 dùng vào việc phạm tội.
  • - Tiếp tục tạm giữ 01 điện thoại di động IPhone màu vàng gắn sim số 0767956008 của Đỗ Hoàng A để đảm bảo thi hành án.

Vật chứng hiện do Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Tháp Mười quản lý. (Kèm theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23/10/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tháp Mười).

7. Về án phí:

Áp dụng Điều 23, Điều 26 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Đ, bị cáo A, bị cáo N1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

8. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

9. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND Tỉnh, Huyện;
  • - TAND Tỉnh;
  • - Sở Tư pháp Tỉnh;
  • - Nhà tạm giữ Công an Huyện;
  • - Chi cục THADS Huyện;
  • - Bị cáo, các đương sự;
  • - Lưu: HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Lê Duy Khánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2023/HS-ST ngày 23/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 75/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/10/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cao Vũ Đằng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger