Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số: 75/2024/HNGĐ - ST

Ngày: 23-8-2024

V/v: Ly hôn và chia tài sản chung.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

——————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

——————————

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Hồng

Bà Trần Thị Minh Nguyệt

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa:

Ông Trần Mạnh Trường - Kiểm sát viên.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 44/2024/TLST-HNGĐ ngày 10-01-2024 về việc: “Ly hôn và chia tài sản chung";

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 294/2024/QĐXXST-DS ngày 02-8-2024 giữa:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1969

Đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Nam Định. Hiện đang cư trú tại Ma Cao - Trung Quốc.

Người đại diện theo uỷ quyền của bà Nguyễn Thị H về việc giải quyết phân chia tài sản chung: Ông Phạm Nhật T, sinh năm 2000 và ông Lê Anh T1, sinh năm 2001; cùng địa chỉ: Số B đường N, phường N, quận B, thành phố Hà Nội.

- Bị đơn: Ông Phạm Văn H1, sinh năm 1967; nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Nam Định.

Tại phiên tòa có mặt ông H1, ông T, ông T1; bà H có đơn xin xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình tố tụng tại tòa án, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị H và người đại diện theo uỷ quyền của bà H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Phạm Văn H1 kết hôn ngày 22 tháng 10 năm 1990 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã T, huyện V, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng chỉ được một thời gian ngắn thì mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông H1 thường xuyên mắng chửi, đánh đập gây thương tích cho bà. Năm 2000, ông H1 từng nhốt bà vào căn nhà cấp bốn và châm lửa đốt. Đến năm 2004, do không chịu được sự đánh đập của ông H1 nên bà đã quyết định sống ly thân và đã sang Đài Loan để lao động, nhưng hàng tháng bà vẫn gửi tiền về cho ông H1 để chăm nom cho các con. Năm 2009, sau khi về nước bà phát hiện ra ông H1 dùng số tiền bà gửi về vào việc riêng của ông ấy và không chăm lo cho các con. Từ năm 2010 cho đến nay, bà sinh sống và làm việc ở M. Nay bà xác định không còn tình cảm với ông H1, mâu thuẫn vợ chồng đã căng thẳng trầm trọng, không thể hàn gắn, vì vậy bà đề nghị Toà án giải quyết cho bà ly hôn với ông H1.

- Về con chung: Bà và ông Phạm Văn H1 có 02 con chung là Phạm Thị H2 sinh ngày 22 tháng 12 năm 1997 và Phạm Văn H3 sinh ngày 09 tháng 04 năm 1995. Cả hai con đều đã trưởng thành tự lập được nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về tài sản: Trong quá trình chung sống, bà và ông Phạm Văn H1 đã tạo dựng được khối tài sản chung bao gồm:

  • + Thửa đất số 226, tờ bản đồ số 6, diện tích 180m² có địa chỉ tại thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Nam Định được UBND huyện V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng (GCNQSD) đất ngày 30/11/2004 đứng tên hộ ông Phạm Văn H1, trên đất có nhà mái bằng, bếp và công trình phụ. Nguồn gốc đất là do vợ chồng bà mua của UBND xã T khoảng năm 1991, sau đó vợ chồng bà xây dựng nhà và sinh sống trên thửa đất đó cho đến nay. Vì vậy bà đề nghị Toà án phân chia nhà đất này mỗi người hưởng 50% giá trị.
  • + Thửa đất số 203, tờ bản đồ số 13, diện tích 132m² có địa chỉ tại thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Nam Định được UBND huyện V cấp GCNQSD đất ngày 02/3/2007 đứng tên Phạm Văn H1 và Nguyễn Thị H. Nguồn gốc hình thành thửa đất như sau: Khoảng giữa năm 2006, bà có gửi tiền về cho ông H1 để mua đấu giá quyền sử dụng đất của UBND huyện V, ngày 02/3/2007 được UBND huyện V cấp GCNQSD đất. Số tiền mua thửa đất này toàn bộ là do bà đi làm ở nước ngoài gửi về cho ông H1. Do công sức đóng góp của bà vào thửa đất này nhiều hơn so với ông H1 nên đề nghị Toà án phân chia thửa đất này theo tỉ lệ ông H1 hưởng 40%, bà hưởng 60% giá trị thửa đất.

Để tạo điều kiện cho ông H1 có chỗ ở, bà xin nhận thửa đất số 203 và chia cho ông H1 thửa đất số 226 (trên đất có nhà). Nếu chênh lệch về giá trị thì bà thanh toán phần chênh lệch cho ông H1.

- Về công nợ: Bà và ông Phạm Văn H1 không có công nợ chung nên không yêu cầu Toà án xem xét, giải quyết.

Ngoài ra bà không yêu cầu giải quyết vấn đề gì khác.

* Tại bản tự khai và và quá trình tố tụng tại tòa án, bị đơn là ông Phạm Văn H1 trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thị H kết hôn ngày 22 tháng 10 năm 1990 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký tại UBND xã T, huyện V, tỉnh Nam Định.Trong quá trình chúng sống cũng có lúc ông mắng chửi, đánh bà H nhưng không đến mức gây thương tích như bà H trình bày. Tiền bà H gửi từ Đài Loan về ông sử dụng vào việc nuôi hai con ăn học và mua thêm được mảnh đất 132m² chứ ông không dùng vào việc riêng như bà H trình bày. Bà H đi Đài Loan từ năm 2004 đến năm 2010, đến năm 2012 thì đi M - Trung Quốc cho đến nay, khoảng 02 năm bà H về nước một lần. Lần gần đây nhất bà H về nước vào tháng 9/2023 để cưới con trong khoảng 1 tuần rồi lại đi sang M. Trong thời gian bà H về nước, vợ chồng vẫn ăn ở sinh hoạt cùng nhà nhưng không ngủ với nhau, bà H vẫn tỏ ra giận dỗi, bực tức với ông về những chuyện mâu thuẫn vợ chồng trước đây. Bà H yêu cầu ông thay đổi tính nết và ông đã xin lỗi bà H. Vì vậy ông không đồng ý ly hôn, mong muốn vợ chồng quay về đoàn tụ chung sống.

- Về con chung: Vợ chồng ông có hai con chung như bà H trình bày, hiện nay các con đã trưởng thành xây dựng gia đình riêng, không có gì liên quan đến vợ chồng ông bà.

- Về tài sản: Trong quá trình chung sống, vợ chồng ông đã tạo lập được tài sản chung như sau:

  • + Thửa đất diện tích 180m² tại thôn P (nay là thôn B) xã T, huyện V. Trên đất có căn nhà mái bằng 1 tầng, diện tích khoảng 50m², xây dựng từ năm 1993. Công trình phụ gồm bếp, nhà vệ sinh xây tường gạch, mái lợp ngói đỏ + proximăng, khoảng hơn 20m² đã xuống cấp không còn giá trị, hiện nay mình ông đang sinh sống tại nhà đất này. Nguồn gốc thửa đất này là do 1991 mẹ ông đứng ra mua của xã cho vợ chồng ông, sau đó vợ chồng ông xây nhà và sinh sống từ đó đến nay. Thửa đất này đã được Nhà nước cấp GCNQSD đất đứng tên ông (Phạm Văn H1) từ năm 2004, giấy chứng nhận hiện nay do ông đang cất giữ. Ông xác định thửa đất này là tài sản riêng của ông, do bố mẹ ông mua cho ông và sổ đỏ đứng tên ông; chỉ có nhà và các công trình trên đất là do vợ chồng ông xây dựng nên là tài sản chung của vợ chồng, tuy nhiên đến nay các công trình này đã hết khấu hao sử dụng.
  • + Thửa đất số 203, tờ bản đồ số 13, diện tích 132m² tại thông Bái Phạm, xã T đã được cấp GCNQSD đất đứng tên ông (Phạm Văn H1) và bà Nguyễn Thị H vào năm 2007. Thửa đất này hiện nay vẫn là đất trống, không có công trình xây dựng, không có cây cối, chưa vượt nền, giấy chứng nhận hiện nay do bà H cất giữ. Nguồn gốc thửa đất này là do ông mua đấu giá của Nhà nước vào khoảng cuối năm 2006 với giá khoảng 69 triệu đồng, bà H đi lao động ở nước ngoài gửi về cho ông số tiền là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng), ông đã bỏ thêm số tiền 19.000.000 đồng (mười chín triệu đồng) để đủ số tiền mua đất. Ông xác định thửa đất này là tài sản chung của vợ chồng, nếu ly hôn ông đề nghị Toà án chia đôi thửa đất này cho mỗi người một nửa, giao toàn bộ thửa đất cho bà H sử dụng và bà H trả cho ông giá trị một nửa thửa đất bằng tiền.

- Về công nợ chung: Vợ chồng ông không nợ nần gì ai nên không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.

Ngoài ra ông không yêu cầu giải quyết vấn đề gì khác.

* Anh Phạm Văn H3 và chị Phạm Thị H2 - là con của ông Phạm Văn H1 và bà Nguyễn Thị H trình bày: Bố mẹ anh chị có khối tài sản chung là hai thửa đất như bà H trình bày là đúng, trong đó thửa đất số 203 là do mẹ của anh chị (bà Nguyễn Thị H) gửi tiền về cho bố anh chị (ông Phạm Văn H1) để mua đấu giá quyền sử dụng đất của UBND huyện V. Số tiền mua đất chủ yếu do mẹ anh chị đi làm ở nước ngoài gửi về.

* Kết quả xem xét thẩm định, định giá tài sản:

  • - Thửa đất số 226, tờ bản đồ số 6 tại thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Nam Định có diện tích 196.8m², trên đất có nhà và các công trình xây dựng, hiện ông H1 đang quản lý sử dụng. Giá đất là 5.000.000 đồng/m²; giá trị nhà và các công trình xây dựng trên đất còn lại là 1.238.000 đồng.
  • - Thửa đất số 203, tờ bản sồ số 12 tại thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Nam Định (đất trống) có diện tích 132m², giá đất là 16.000.000 đồng/m².

* Ủy ban nhân dân xã T cung cấp: Bà Nguyễn Thị H và ông Phạm Văn H1 đăng ký kết hôn ngày 22 tháng 10 năm 1990 tại UBND xã T. Sau khi kết hôn ông bà chung sống hòa thuận được một thời gian thì bà H đi lao động làm ăn ở nước ngoài, hàng năm vẫn về thăm gia đình. Mâu thuẫn của ông bà phát sinh khoảng 10 năm nay, khi bà H về nước thăm gia đình thì ông bà có xảy ra va chạm cãi chửi nhau.

- Về con chung: Ông bà có hai con chung đã trưởng thành lập gia đình riêng.

- Về tài sản: Ông H1 và bà H có hai thửa đất như ông bà đã khai.

  • + Thửa đất số 226, tờ bản đồ số 6, diện tích 180m2 tại thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Nam Định được UBND huyện V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 30/11/2004 cho hộ ông Phạm Văn H1, trên đất có nhà mái bằng, bếp và công trình phụ. Nguồn gốc đất là do ông bà mua của UBND xã T khoảng năm 1991, sau đó ông bà vượt lập xây dựng nhà và sinh sống trên thửa đất đó cho đến nay.
  • + Thửa đất số 203, tờ bản đồ số 13, diện tích 132m² có địa chỉ tại thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Nam Định được UBND huyện V cấp GCNQSD đất ngày 02/3/2007 mang tên ông Phạm Văn H1 và bà Nguyễn Thị H. Nguồn gốc thửa đất là do ông bà mua đấu giá quyền sử dụng đất của UBND huyện V từ năm 2006, ngày 02/3/2007 được UBND huyện V cấp GCNQSD đất mang tên ông Phạm Văn H1 và bà Nguyễn Thị H.

Hiện tại hai thửa đất của ông H1 và bà H không có tranh chấp với ai.

- Về công nợ: Ông H1 và bà H không nợ khoản đóng góp nào của địa phương.

* Tại phiên tòa:

  • - Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên quan điểm, yêu cầu như đã nêu trên;
  • - Bị đơn (ông H1) có quan điểm: Ông không muốn ly hôn nhưng nếu bà H cương quyết thì ông cũng đồng ý ly hôn; ông cũng đồng ý phân chia tài sản như bà H yêu cầu.
  • - Các đương sự thỏa thuận về việc phân chia tài sản như sau:
  • + Giao cho bà H được quyền sử dụng thửa đất số 203, tờ bản đồ số 13, diện tích 132m² đất ở, tại xã T, huyện V, tỉnh Nam Định, đã được UBND huyện V cấp GCNQSD đất ngày 02/3/2007 đứng tên ông Phạm Văn H1 và bà Nguyễn Thị H, trị giá 2.112.000.000đồng
  • + Giao cho ông H1 được quyền sử dụng thửa đất số 226, tờ bản đồ số 6, diện tích 180m² đất ở, tại xã T, huyện V, tỉnh Nam Định, đã được UBND huyện V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 30/11/2004 đứng tên hộ ông Phạm Văn H1 và được quyền sở hữu toàn bộ nhà và công trình xây dựng trên thửa đất 226. Tổng giá trị đất và công trình xây dựng trên đất là 901.238.000 đồng.
  • + Bà Nguyễn Thị H có trách nhiệm thanh toán cho ông Phạm Văn H1 giá trị chênh lệch tài sản là 394.181.000 đồng.
  • - Về chi phí tố tụng: Bà H tự nguyện nộp toàn bộ chi phí thẩm định, định giá tài sản, không yêu cầu tòa án giải quyết.
  • - Về án phí: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định phát biểu quan điểm:

  • - Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H, xử ly hôn giữa bà H và ông H1. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc phân chia tài sản chung.
  • - Về án phí: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện xin ly hôn, yêu cầu chia tài sản chung. Vì vậy xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp tài sản chung”.

Về thẩm quyền: Nguyên đơn đang lao động và cư trú tại Ma Cao - Trung Quốc, bị đơn cư trú tại huyện V, tỉnh Nam Định nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H và ông Phạm Văn H4 hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 22 tháng 10 năm 1990 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Nam Định nên là hôn nhân hợp pháp. Trong thời gian chung sống ông bà đã phát sinh mâu thuẫn, nhiều lần xảy ra đánh cãi chửi nhau. Bà H đi lao động ở nước ngoài, thỉnh thoảng mới về chơi ít ngày nhưng vợ chồng vẫn không cải thiện được mâu thuẫn, vẫn đánh cãi chửi nhau. Nay bà H xác định tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng hàn gắn nên xin ly hôn; ông H1 thừa nhận vợ chồng mâu thuẫn như bà H trình bày, ông xin lỗi bà H và mong muốn vợ chồng về đoàn tụ nhưng bà H không chấp nhận, nên ông cũng đồng ý ly hôn. Xét mâu thuẫn của ông bà đã trầm trọng kéo dài, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích của hôn nhân không đạt được, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H, xử cho ông bà ly hôn là phù hợp với Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

[2.2] Về chia tài sản chung: Xét việc thỏa thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên được Hội đồng xét xử công nhận.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà H phải chịu án phí ly hôn và án phí chia tài sản, ông H1 phải chịu án phí chia tài sản theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 59 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Điều 147, 246 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  1. Xử ly hôn giữa bà Nguyễn Thị H và ông Phạm Văn H1;
  2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự về việc chia tài sản chung như sau:
  • - Giao cho bà Nguyễn Thị H được quyền sử dụng thửa đất số 203, tờ bản đồ số 13, diện tích 132m² đất ở, tại thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Nam Định, đã được UBND huyện V cấp GCNQSD đất ngày 02/3/2007 đứng tên ông Phạm Văn H1 và bà Nguyễn Thị H, trị giá 2.112.000.000đồng. Bà Nguyễn Thị H có trách nhiệm thanh toán cho ông Phạm Văn H1 giá trị chênh lệch tài sản là 394.181.000₫ (Ba trăm chín tư triệu, một trăm tám mốt nghìn đồng).
  • - Giao cho ông Phạm Văn H1 được quyền sử dụng thửa đất số 226, tờ bản đồ số 6, diện tích 180m² đất ở, tại thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Nam Định, đã được UBND huyện V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 30/11/2004 đứng tên hộ ông Phạm Văn H1 và được quyền sở hữu toàn bộ nhà và công trình xây dựng trên thửa đất 226. Tổng giá trị đất và công trình xây dựng trên đất là 901.238.000 đồng. Ông H1 được nhận ở bà Nguyễn Thị H số tiền chênh lệch giá trị tài sản là 394.181.000₫ (Ba trăm chín mươi tư triệu, một trăm tám mươi mốt nghìn đồng).
  1. Bà Nguyễn Thị H và ông Phạm Văn H1 liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
  2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.
  3. Án phí dân sự sơ thẩm:
    • - Án phí ly hôn: Bà H phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng).
    • - Án phí chia tài sản: Bà H phải nộp 31.767.000đ, được đối trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.000.000đ tại biên lai số 0005696 ngày 10/01/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nam Định, bà H còn phải nộp 28.767.000₫ (Hai mươi tám triệu, bảy trăm sáu mươi bảy nghìn đồng). Ông H1 phải nộp 25.431.000₫ (Hai mươi lăm triệu, bốn trăm ba mươi mốt nghìn đồng).
  4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bà H vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì các đương sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Nam Định;
  • - Cục THADS tỉnh Nam Định;
  • - UBND xã Trung Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tiến Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2024/HNGĐ - ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn và chia tài sản chung

  • Số bản án: 75/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và chia tài sản chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn và chia tài sản chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger