|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TH TỈNH HD |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 75/2024/HS-ST
Ngày: 22/11/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TH, TỈNH HD
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hoài
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Bùi Quang Sơn
- Bà Bùi Thị Vân
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Bốn - Thư ký Tòa án nhân huyện TH, tỉnh HD.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TH, tỉnh HD tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân huyện TH, tỉnh HD, Tòa án nhân dân huyện TH, tỉnh HD xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 56/2024/TLST-HS ngày 11/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
LÊ VĂN T, sinh năm 1994; Nơi sinh và nơi cư trú: Thôn Khánh Mậu, xã Thanh Thủy, huyện TH, tỉnh HD; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Th và bà Nguyễn Thị T (đã chết); chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 47 ngày 11/12/2012 của Tòa án nhân dân huyện TH xử phạt 03 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ quy định tại khoản 2 Điều 202 của Bộ luật hình sự năm 1999. Chấp hành xong hình phạt chính ngày 11/12/2017, nộp án phí ngày 29/01/2013; Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 124 ngày 19/10/2015 của Công an huyện TH về hành vi xâm phạm sức khỏe của người khác, hình thức phạt tiền 3.000.000đ, chưa nộp phạt đến nay đã hết thời hiệu. Ngày 30/9/2024 Công an huyện Hoài Đức – Hà Nội đang khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Bị tạm giữ từ ngày 21/8/2024, chuyển tạm giam ngày 22/8/2024 tại Trại tạm giam Công an tỉnh HD. (Có mặt tại phiên tòa ).
- Bị hại: Ông Đào Văn V, sinh năm 1964; Cư trú tại: Xóm 4, Thôn An Lão, xã Thanh Khê, huyện TH, tỉnh HD. (Có mặt)
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Đức Ph, sinh năm 1999; Cư trú tại: thôn An Lão, xã Thanh Khê, huyện TH, tỉnh HD. (Có mặt)
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn Ch. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 17/8/2024, Lê Văn T. đi bộ từ thôn Khánh Mậu, xã Thanh Thủy, huyện TH, tỉnh HD đến nhà anh Trần Đức Ph với mục đích để hỏi mua chuồng nuôi chim. Do hết lưới đan nên anh Ph bảo T đi cùng để mua lưới, anh Ph điều khiển xe máy Honda Vision màu trắng biển số 34B4 – 931.22 đăng ký sở hữu Trần Đức Ph, chở T đến nhà ông Đào Văn V, sinh năm 1964 ở xóm 4, thôn An Lão, xã Thanh Khê, huyện TH để mượn xe máy có giá để hàng, anh Ph gửi lại xe máy trên tại vị trí sân dưới lán tôn và để chìa khóa xe ở bàn uống nước trong nhà ông V. Sau đó anh Ph điều khiển xe của ông V chở T đến khu vực chợ Nứa, xã Thanh Hải, huyện TH, tỉnh HD để mua lưới nhưng không mua được nên đã chở T về nhà và hẹn T chiều cùng ngày đến để đi mua lưới. Khoảng 12 giờ 10 phút cùng ngày, khi đi qua nhà ông V. T đã nảy sinh ý định chiếm đoạt xe máy của anh Ph. T quan sát xung quanh không có người, T đi vào sân nhà ông V nhìn qua cửa sổ thấy ông V đang nằm ngủ dưới nền nhà. T để dép ở ngoài sân rồi đi vào khu vực bàn uống nước trong nhà ông V để lấy chìa khóa xe máy sau đó ra vị trí để xe cắm chìa khóa vào ổ khóa điện rồi dong xe ra cổng. Ông V nghe thấy tiếng động đã tỉnh dậy nhìn thấy T đang dong xe nên đã hô “Trộm, trộm” thấy vậy, T liền điều khiển xe bỏ chạy đến khu vực Chùa Hà, Thành phố Hà Nội bán cho 01 người đàn ông không quen biết với giá 3.000.000₫ đã chi tiêu cá nhân hết. Ngày 21/8/2024, anh Ph đã có đơn trình báo đến Công an xã TK. Hồi 15giờ 45 phút cùng ngày Cơ quan điều tra Công an huyện TH phát hiện Lê Văn Tùng đang đi trên đường khu 7 thị trấn TH đã thực hiện lệnh giữ người khẩn cấp.
Tại kết luận định giá tài sản số 20/KL-HĐĐGTS ngày 21/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong hoạt động tố tụng huyện TH kết luận: 01 máy Honda Vision màu trắng biển số 34B4 - 931.22 trị giá 18.500.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 56/CT-VKSHD-TH ngày 11/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện TH, tỉnh HD truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đề nghị giải quyết theo pháp luật về hình phạt, về trách nhiệm dân sự đề nghị buộc bị cáo bồi thường cho anh Ph giá trị chiếc xe máy.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TH giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; Các điều 357, 468, 584, 585, 586, 589 của Bộ luật dân sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Luật phí và lệ phí năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Văn T từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/8/2024. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lê Văn T phải bồi thường cho anh Trần Đức Ph giá trị chiếc xe máy 18.500.000đ; Hình phạt bổ sung: Không giải quyết. Về vật chứng: Đề nghị tịch thu cho tiêu hủy 01 đôi dép màu đen (theo biên bản giao nhận vật chứng). Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện TH, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện TH, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản định giá tài sản, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 12 giờ 10 ngày 17/8/2024, tại nhà ông Đào Văn Vạng; địa chỉ: Xóm 4, thôn An Lão, xã Thanh Khê, huyện TH, tỉnh HD. Lợi dụng sơ hở của ông V (là người quản lý tài sản). Lê Văn T đã lén lút chiếm đoạt 01 xe máy Honda Vision màu trắng biển số 34B4 -931.22 của anh Trần Đức Ph trị giá 18.500.000đ. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện TH, tỉnh HD truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ. Thủ đoạn thực hiện táo bạo giữa ban ngày. Cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, buộc bị cáo cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
- Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nhưng có nhân thân xấu, năm 2012 đã bị Tòa án nhân dân huyện TH, tỉnh HD xét xử 03 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ đã được xóa án tích; năm 2015 bị xử phạt hành chính về hành vi xâm phạm sức khỏe của người khác tuy chưa nộp phạt đến nay đã hết thời hiệu theo quy định tại Điều 74 của Luật xử lý hành chính. Ngoài ra ngày 30/9/2024 bị Công an huyện Hoài Đức, Hà Nội đang khởi tố vụ án, khởi tố bị can về hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Ông V là người quản lý xe do anh Ph gửi giữ đã bị bị cáo chiếm đoạt, anh Ph xác định là tài sản riêng không liên quan đến chị Hoàng Thị H (vợ anh Ph ). Bị cáo phải bồi thường cho ông V để ông V bồi thường cho anh P. Tại phiên tòa, bị cáo và ông V, anh Ph thỏa thuận bị cáo bồi thường trực tiếp cho anh Trần Đức Ph số tiền 18.500.000đ trị giá tài sản 01 chiếc xe máy do bị cáo chiếm đoạt là đảm bảo theo quy định của Pháp luật.
- Về xử lý vật chứng: 01 đôi dép màu đen của Lê Văn T là vật chứng có liên quan đến tội phạm và là vật không còn giá trị sử dụng. Cần tịch thu cho tiêu hủy.
- Các vấn đề khác: Ông Đào Văn V là người cho anh Ph mượn xe có giá chở hàng, anh Ph gửi lại xe máy và chìa khóa. Việc T trộm cắp tài sản, ông Vạng không biết nên không có đủ căn cứ xử lý.
- Về án phí: Bị cáo bị kết án, không thuộc diện được miễn, giảm án phí nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Các điều 357, 468, 584, 585, 586, 589 của Bộ luật dân sự; điểm c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Luật phí và lệ phí năm 2015. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt: Bị cáo Lê Văn T. 01 năm 03 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 21/8/2024.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy 01 đôi dép màu đen (đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TH và Chi cục Thi hành án dân sự huyện TH).
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lê Văn T phải bồi thường cho anh Trần Đức Ph số tiền 18.500.000đ (giá trị 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu trắng biển số 34B4 -931.22).
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. kể từ khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành không thi hành số tiền trên thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo khoản 2 Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự;
- Về án phí: Bị cáo Lê Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và số tiền 925.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về phần bản án hoặc quyết định có liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án theo quy định tại các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hoài |
Bản án số 75/2024/HS-ST ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TH, TỈNH HD về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 75/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TH, TỈNH HD
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Tùng
