Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 75/2024/DS-ST

Ngày: 29 - 7 - 2024

V/v tranh chấp hợp đồng

tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Tố Uyên

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Văn Công
  2. Bà Trần Kim Thoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hà Giang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hương– Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thuận An, xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 403/2023/TLST-DS ngày 24 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2024/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 7 năm 2024, giữa:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q; địa chỉ: Tầng A (tầng trệt) và Tầng B, Tòa nhà S - A P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện hợp pháp theo uỷ quyền: Ông Lưu Duy L, ông Nguyễn Anh D và bà Đậu Thị T; cùng địa chỉ liên lạc: Tầng F, tòa nhà P, số B U, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản uỷ quyền ngày 11/6/2024). Ông Lưu Duy L có mặt.

2. Bị đơn:

- Ông Lê Xuân Đ, sinh năm 1992; địa chỉ thường trú: Tổ A, ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương. Có mặt.

- Bà Nguyễn Thị Hồng P, sinh năm 1991; địa chỉ thường trú: Số A khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị Hồng P: Ông Nguyễn Vũ Anh T1, sinh năm 1977; địa chỉ: Khu phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương - đại diện theo ủy quyền theo Hợp đồng ủy quyền ngày 15/4/2024. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện nộp tại Tòa án ngày 16/10/2023 và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn trình bày:

Ngân hàng TMCP Q (sau đây viết tắt là V) đã cho ông Lê Xuân Đ và bà Nguyễn Thị Hồng P vay số tiền 1.500.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 2018.0580.HĐTD.681 ngày 12/10/2018; mục đích vay vốn: Bù đắp vốn tự có để nhận chuyển nhượng bất động sản. Thời hạn vay: 300 tháng, lãi suất vay 9.99%/năm. Lãi trong hạn cố định trong 01 năm đầu và sau đó thì điều chỉnh bằng lãi suất cơ sở + biên độ 3.99%. Lãi quá hạn tính bằng 150% lãi suất trong hạn trên số tiền gốc còn nợ. Thời điểm thanh toán tiền gốc và lãi hàng tháng vào ngày 22 dương lịch.

Để đảm bảo cho khoản vay nêu trên, ông Lê Xuân Đ và bà Nguyễn Thị Hồng P đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 2018.0580.HĐTC.681 ngày 12/10/2018 và Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai số 2018.0580.1.HĐTC.681 ngày 12/10/2018 nội dung: Thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất (gồm tài sản hiện hữu và tài sản hình thành trong tương lai nếu có phát sinh) tại thửa đất số 523, tờ bản đồ số: 221, toạ lạc tại khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CD 288215, số vào sổ cấp GCN: CS1147387 do Sở T2, tỉnh Bình Dương cấp cho bà Nguyễn Thị Hồng P ngày 13/6/2016. Hợp đồng thế chấp đã được đăng ký đảm bảo theo quy định.

Ngày 18/10/2018, V đã giải ngân cho ông Lê Xuân Đ và bà Nguyễn Thị Hồng P theo phiếu giải ngân số 73620180 với số tiền 1.500.000.000 đồng đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với Hợp đồng tín dụng nêu trên.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Lê Xuân Đ và bà Nguyễn Thị Hồng P đã vi phạm nội dung thỏa thuận đã ký. Theo đó, khoản vay đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 22/11/2022. Đến ngày 25/8/2023, sau khi hoàn tất các thủ tục để xem xét chuyển nợ quá hạn, V đã chuyển toàn bộ khoản vay và lãi suất phát sinh theo Hợp đồng tín dụng, V chuyển toàn bộ khoản nợ trên sang nợ quá hạn.

Tính đến ngày 22/10/2022, ông Lê Xuân Đ và bà Nguyễn Thị Hồng P đã trả tổng số tiền: 890.466.714 đồng, trong đó: Nợ gốc: 235.000.000, lãi trong hạn: 655.466.714 đồng. Từ đó đến nay mặc dù ngân hàng đã nhiều lần gửi văn bản đôn đốc, nhắc nhở nhưng phía bị đơn không thanh toán thêm bất cứ khoản tiền nào.

Tính đến ngày 29/7/2024, số tiền ông Lê Xuân Đ và bà Nguyễn Thị Hồng P còn nợ Ngân hàng TMCP Q tổng số tiền là: 1.732.435.196 đồng (Trong đó: nợ gốc: 1.265.000.000 đồng, lãi trong hạn: 188.206.509 đồng, lãi quá hạn: 279.228.687 đồng.

Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các nội dung sau:

  1. Buộc ông Lê Xuân Đ và bà Nguyễn Thị Hồng P phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q (sau đây viết tắt là Ngân hàng V) số tiền tính đến ngày xét xử 29/7/2024 là: 1.732.435.196 đồng (Trong đó: Nợ gốc: 1.265.000.000 đồng, lãi trong hạn: 188.206.509 đồng, lãi quá hạn: 279.228.687 đồng).
  2. Buộc ông Lê Xuân Đ và bà Nguyễn Thị Hồng P phải tiếp tục thanh toán tiền lãi suất phát sinh kể từ ngày 30/7/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng số 2018.0580.HĐTD.681 ngày 12/10/2018; Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 2018.0580.HĐTD.681 ngày 12/10/2018.
  3. Trường hợp ông Lê Xuân Đ và bà Nguyễn Thị Hồng P không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng V thì Ngân hàng V được quyền yêu cầu phát mãi tài sản đã thế chấp cho Ngân hàng V theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 2018.0580.HĐTC.681 ngày 12/10/2018 và Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai số 2018.0580.1.HĐTC.681 ngày 12/10/2018. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất tại thửa đất số 523, tờ bản đồ số: 221, toạ lạc tại khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CD 288215, số vào sổ cấp GCN: CS1147387 do Sở T2, tỉnh Bình Dương cấp cho bà Nguyễn Thị Hồng P ngày 13/6/2016.

Nếu số tiền phát mãi tài sản bảo đảm không đủ để thu hồi khoản nợ thì ông Lê Xuân Đ và bà Nguyễn Thị Hồng P phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng V.

Nguyên đơn không yêu cầu gì khác.

Tài liệu, chứng cứ nguyên đơn giao nộp gồm: Hợp đồng tín dụng số 2018.0580.HĐTD.681 ngày 12/10/2018; Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 2018.0580.HĐTD.681 ngày 12/10/2018; Phiếu giải ngân số 73620180 ngày 18/10/2018; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 2018.0580.HĐTC.681 ngày 12/10/2018 và Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai số 2018.0580.1.HĐTC.681 ngày 12/10/2018; hồ sơ đăng ký giao dịch bảo đảm; bảng kê tính lãi, lịch sử thanh toán và một số tài liệu có liên quan đến việc khởi kiện.

* Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn ông Lê Xuân Đ trình bày:

Ông Lê Xuân Đ và bà Nguyễn Thị Hồng P đã ly hôn vào năm 2023 theo Quyết định của Tòa án. Trong thời kỳ hôn nhân, ông Đ và bà P có vay của Ngân hàng V số tiền 1.500.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 2018.0580.HĐTD.681 ngày 12/10/2018. Để đảm bảo cho khoản vay, bà Nguyễn Thị Hồng P đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 2018.0580.HĐTC.681 ngày 12/10/2018 và Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai số 2018.0580.1.HĐTC.681 ngày 12/10/2018. Ông Đ thống nhất với trình bày của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ liên quan đến hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp như đã nêu trên. Sau khi ký kết hợp đồng, ngân hàng đã giải ngân đầy đủ số tiền theo thỏa thuận.

Tuy nhiên, đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì ông Lê Xuân Đ có ý kiến như sau: Vào khoảng cuối năm 2020, giữa ông Lê Xuân Đ và bà Nguyễn Thị Hồng P có thỏa thuận về việc chuyển giao trách nhiệm trả nợ cho ngân hàng, theo đó, bà P là người chịu trách nhiệm toàn bộ đối với khoản vay nêu trên. Sau khi thỏa thuận, bà P yêu cầu Ngân hàng làm thủ tục chuyển toàn bộ khoản nợ trên qua cho bà P để bà P trả tiền gốc, lãi hàng tháng cho ngân hàng, việc này được lập biên bản gồm ông Đ, bà P và Ngân hàng cùng ký. Đến tháng 3/2021, ông Đ đã đưa cho bà P 3.500.000.000 đồng để trả nợ cho ngân hàng. Bà P sau khi nhận tiền của ông Đ đã sử dụng cho mục đích riêng mà không chịu trả nợ cho ngân hàng dẫn đến phát sinh khoản nợ quá hạn là do lỗi của bà P, bà P phải có trách nhiệm trả toàn bộ khoản tiền còn nợ ngân hàng đến thời điểm hiện tại, ông Đ không đồng ý liên đới trả nợ cùng với bà P.

Ông Đ không yêu cầu phản tố trong vụ án.

* Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng P trình bày:

Thống nhất với trình bày và các chứng cứ nguyên đơn cung cấp về việc bà Nguyễn Thị Hồng P và ông Lê Xuân Đ có ký kết với V Hợp đồng tín dụng số 2018.0580.HĐTD.681 ngày 12/10/2018 để vay khoản tiền 1.500.000.000 đồng và ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 2018.0580.HĐTC.681 ngày 12/10/2018 và Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai số 2018.0580.1.HĐTC.681 ngày 12/10/2018 để đảm bảo cho khoản vay nêu trên. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì không có yêu cầu phản tố. Đối với phần trách nhiệm trả nợ, do hiện tại ông Đ và bà P đã ly hôn với nhau nên đề nghị Hội đồng xét xử tách khoản nợ ra làm 2 phần, ông Đ, bà P tự trả khoản nợ tương ứng với phần nghĩa vụ của mình.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn giữ nguyên toàn bộ yêu cầu khởi kiện, giữa nguyên đơn và bị đơn không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án.

Ý kiến của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tại phiên tòa:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được pháp luật quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Sau khi nghiên cứu tài liệu có tại hồ sơ vụ án, thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết qủa tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn ông Lê Xuân Đ và bà Nguyễn Thị Hồng P có địa chỉ thường trú tại: Phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Do đó, quan hệ pháp luật trong vụ án được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An theo quy định tại Khoản 3, Điều 26; các Điều 35, Điều 36 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Ngày 12/10/2018 giữa Ngân hàng TMCP Q và ông Lê Xuân Đ và bà Nguyễn Thị Hồng P có ký kết Hợp đồng tín dụng số 2018.0580.HĐTD.681, vay số tiền 1.500.000.000 đồng, mục đích vay để để bù đắp vốn tự có để nhận chuyển nhượng bất động sản. Ông Lê Xuân Đ và bà Nguyễn Thị Hồng P xác nhận đã nhận đủ số tiền vay. Đây là chứng cứ không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, có cơ sở xác định Ngân hàng TMCP Q có cho ông Lê Xuân Đ và bà Nguyễn Thị Hồng P vay số tiền 1.500.000.000 đồng. Ông Lê Xuân Đ và bà Nguyễn Thị Hồng P đã nhận được toàn bộ số tiền giải ngân theo thỏa thuận. Do đó, quyền lợi và nghĩa vụ giữa hai bên phát sinh từ các hợp đồng tín dụng nêu trên.

[2.2] Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Lê Xuân Đ và bà Nguyễn Thị Hồng P đã không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán nợ cho ngân hàng theo thỏa thuận, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn, cụ thể như sau:

Căn cứ vào bảng tính lãi khách hàng và bảnh tình hình giao dịch khế ước cho thấy: Tính đến ngày 22/10/2022, ông Lê Xuân Đ và bà Nguyễn Thị Hồng P trả tổng số tiền: 890.466.714 đồng, trong đó: nợ gốc: 235.000.000, lãi trong hạn: 655.466.714 đồng). Từ đó đến nay, ông Đ và bà P không trả thêm bất cứ khoản tiền nào. Như vậy, căn cứ theo Khoản 4.1 Điều 4 của Hợp đồng tín dụng số 2018.0580.HĐTD.681 ngày 12/10/2018 thì V yêu cầu giải quyết thu hồi nợ trước hạn là có cơ sở.

Đối với phần tính lãi, các bên thỏa thuận tại Điều 1 của Hợp đồng tín dụng số 2018.0580.HĐTD.681 ngày 12/10/2018 và Mục 6 của Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 2018.0580.HĐTD.681 ngày 12/10/2018. Xét thấy, mức thỏa thuận lãi suất của các bên phù hợp với Khoản 1, Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 và Thông tư 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng N.

Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông Lê Xuân Đ và bà Nguyễn Thị Hồng P trả tổng số tiền đến thời điểm xét xử là 1.732.435.196 đồng (Trong đó: Nợ gốc: 1.265.000.000 đồng, lãi trong hạn: 188.206.509 đồng, lãi quá hạn: 279.228.687 đồng) là có căn cứ.

[2.3] Đối với yêu cầu phát mãi tài sản theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 2018.0580.HĐTC.681 ngày 12/10/2018 và Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai số 2018.0580.1.HĐTC.681 ngày 12/10/2018: Tại hợp đồng thế chấp ông Lê Xuân Đ và bà Nguyễn Thị Hồng P thống nhất việc dùng tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 523, tờ bản đồ số: 221, toạ lạc tại khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CD 288215, số vào sổ cấp GCN: CS1147387 do Sở T2, tỉnh Bình Dương cấp cho bà Nguyễn Thị Hồng P ngày 13/6/2016 để đảm bảo cho khoản vay cũng như các khoản lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng. Việc thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật. Xét thấy, việc thỏa thuận này là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp Điều 342, 343, 344 Bộ luật Dân sự 2015. Do đó, trường hợp bị đơn không trả hoặc trả không đầy đủ tất cả khoản nợ nêu trên thì nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ là có cơ sở chấp nhận.

[2.4] Ông Lê Xuân Đ cho rằng đã giao cho bà Nguyễn Thị Hồng P số tiền 3.500.000.000 đồng để trả nợ cho V vào năm 2021 nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh việc thỏa thuận giữa ông Đ và bà P nên việc ông Đ không đồng ý liên đới chịu trách nhiệm cùng bà P trả nợ cho V là không có cơ sở.

[2.5] Bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng P yêu cầu chia khoản nợ phải trả cho nguyên đơn thành hai phần, một phần của bà P, một phần của ông Đ, sau đó bà P, ông Đại t chịu trách nhiệm trả nợ cho nguyên đơn trên phần nợ được chia là không có cơ sở và không đảm bảo cho quyền lợi của nguyên đơn theo quy định của pháp luật.

[2.6] Từ nhận định trên, Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn.

[3] Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

[4] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chổ: Bị đơn phải chịu

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu. Trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 3, Điều 26; Điểm a, Khoản 1, Điều 35; Điều 36; Điểm a, Khoản 1, Điều 39; Khoản 1, Điều 147; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điều 463; Khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Khoản 2, Điều 91 Luật các Tổ chức Tín dụng năm 2010; Thông tư 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 về hướng dẫn Tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q đối với bị đơn ông Lê Xuân Đ và bà Nguyễn Thị Hồng P về việc “tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
    1. Về nghĩa vụ trả nợ:

      Buộc ông Lê Xuân Đ và bà Nguyễn Thị Hồng P phải liên đới trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q tổng số tiền 1.732.435.196 đồng (Trong đó: Nợ gốc: 1.265.000.000 đồng, lãi trong hạn: 188.206.509 đồng, lãi quá hạn: 279.228.687 đồng) theo Hợp đồng tín dụng số 2018.0580.HĐTD.681 ngày 12/10/2018.

    2. Về lãi suất:

      Buộc ông Lê Xuân Đ và bà Nguyễn Thị Hồng P tiếp tục liên đới thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q tiền lãi suất phát sinh từ ngày 30/7/2024 đến khi thanh toán xong số tiền còn nợ.

      Lãi suất từ ngày 30/7/2024 trở đi được tính trên dư nợ gốc thực tế theo mức lãi suất quy định tương ứng tại theo Hợp đồng tín dụng số 2018.0580.HĐTD.681 ngày 12/10/2018 và Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 2018.0580.HĐTD.681 ngày 12/10/2018.

    3. Về phát mãi tài sản:

      Trường hợp ông Lê Xuân Đ và bà Nguyễn Thị Hồng P không thanh toán nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q số tiền phải thanh toán theo thoả thuận nêu trên thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 523, tờ bản đồ số: 221, toạ lạc tại khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CD 288215, số vào sổ cấp GCN: CS1147387 do Sở T2, tỉnh Bình Dương cấp cho bà Nguyễn Thị Hồng P ngày 13/6/2016 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 2018.0580.HĐTC.681 ngày 12/10/2018 và Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai số 2018.0580.1.HĐTC.681 ngày 12/10/2018 để thu hồi nợ.

  2. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chổ:

    Ông Lê Xuân Đ và bà Nguyễn Thị Hồng P phải liên đới chịu 500.000 đồng. Do Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q đã nộp đủ nên Ông Lê Xuân Đ và bà Nguyễn Thị Hồng P có nghĩa vụ hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q.

  3. Về án phí:

    Ông Lê Xuân Đ và bà Nguyễn Thị Hồng P phải liên đới chịu 63.973.056 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

    Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q không phải chịu án phí. Trả lại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q số tiền 27.483.500 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0000841 ngày 15/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

  4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2, Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh BD;
  • - VKSND thành phố Thuận An;
  • - Chi cục THADS thành phố Thuận An;
  • - Lưu: HS, AV.

THẨM PHÁN

Nguyễn Tố Uyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2024/DS-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 75/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vay tiền nhưng không trả đúng thời hạn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger