|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 75/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 21/8/2023
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Lâm Minh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Bà Phạm Thị Hương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Hưng, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu tham gia phiên Tòa: Bà Phạm Thị Diệp – Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 138/2023/TLST-HNGĐ, ngày 07 tháng 6 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Kim P; sinh năm: 1998 (vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp C, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu.
- Bị đơn: Ông Lê Văn L; sinh năm: 1996 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp N, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 26/4/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trần Kim P trình bày:
Vào năm 2015, bà Trần Kim P kết hôn với ông Lê Văn L và được Ủy ban nhân dân xã V cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 03/4/2019. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc và có 02 con chung là cháu Lê Thị Anh T (giới tính: Nữ); sinh ngày 30/6/2016, hiện cháu T đang sống với ông L và cháu Lê Đăng K (giới tính: Nam); sinh ngày 29/4/2021, hiện cháu K đang sống với bà P. Đến năm 2022, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm thường xuyên cãi vã nên cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Bà P và ông L không còn sống chung với nhau từ đầu năm 2022 cho đến nay.
Nay bà Trần Kim P yêu cầu Tòa án giải quyết:
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Kim P yêu cầu được ly hôn với ông Lê Văn L.
- - Về con chung: Bà Trần Kim P đồng ý để ông Lê Văn L nuôi dưỡng cháu Lê Thị Anh T (giới tính: Nữ) sinh ngày 30/6/2016 đến đủ 18 tuổi, bà P không cấp dưỡng nuôi con. Đồng thời, bà Trần Kim P yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Lê Đăng K (giới tính: Nam); sinh ngày 29/4/2021 đến đủ 18 tuổi, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung: Tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn ông Lê Văn L: Dù được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, tại Thông báo thể hiện đầy đủ những tình tiết, sự kiện, tài liệu, yêu cầu khởi kiện của bà P nhưng ông L không phản đối, không có văn bản trình bày ý kiến và nguyện vọng của mình. Tòa án đã thông báo toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cho ông L và đưa vụ án ra xét xử. Phiên tòa ngày 04/8/2023, bị đơn ông L vẫn vắng mặt và không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa, tiếp tục đưa vụ án ra xét xử theo luật định.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa nêu quan điểm: Qua thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự. Nguyên đơn bà Trần Kim P có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn. Đối với bị đơn ông Lê Văn L, trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng ông L vẫn vắng mặt không có lý do nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn theo quy định của pháp luật. Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử cho bà Trần Kim P được ly hôn
với ông Lê Văn L, giao cho bà Trần Kim P được nuôi dưỡng con chung là cháu Lê Đăng K (giới tính: Nam); sinh ngày 29/4/2021 cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi, ông P không phải cấp dưỡng cho cháu K; giao con chung tên Lê Thị Anh T (giới tính: Nữ) sinh ngày 30/6/2016 cho ông L nuôi dưỡng cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi theo nguyện vọng của cháu T, bà P không phải cấp dưỡng cho cháu T, về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn bà P không yêu cầu nên không đặt ra xem xét; nguyên đơn bà P phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
[1] Bà Trần Kim P khởi kiện về việc ly hôn, nuôi con chung. Yêu cầu của bà P được pháp luật điều chỉnh tại các Điều 51, Điều 56 và Điều 58 của Luật hôn nhân và gia đình. Đồng thời, bị đơn ông Lê Văn L có địa chỉ cư trú tại ấp N, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Nguyên đơn ông bà Trần Kim P có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Lê Văn L đã được triệu tập hợp lệ hai lần tham gia phiên tòa, đều vắng mặt không có lý do. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về nội dung giải quyết:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ bản Trích lục kết hôn của bà Trần Kim P và ông Lê Văn L; bản chứng thực căn cước công dân của bà Trần Kim P; bản sao giấy khai sinh của cháu Lê Đăng K; bản sao giấy khai sinh của cháu Lê Thị Anh T, đối chiếu với quy định tại điểm c khoản 1 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử khẳng định lời trình bày của bà Trần Kim P về việc kết hôn với ông Lê Văn L được Ủy ban nhân dân xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 03/4/2019 là sự thật. Vì vậy, giữa bà P và ông L đang tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, do vợ chồng bất đồng quan điểm, không hợp tính tình làm cho cuộc sống chung không hạnh phúc, hiện nay bà P và ông L không còn chung sống với nhau nữa; mạnh ai nấy sống, người nào chỉ biết bổn phận của người đó, không cùng nhau thực hiện các công việc gia đình; không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không cùng nhau nuôi dưỡng,
chăm sóc và giáo dục cháu T và cháu K. Như vậy, bà P và ông L đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình; vợ chồng không còn yêu thương, tôn trọng lẫn nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần áp dụng các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình, giải quyết cho bà Trần Kim P được ly hôn với ông Lê Văn L.
[4] Đối với quyền nuôi con chung: Cháu Lê Đăng K còn nhỏ nên rất cần sự quan tâm, chăm lo của người mẹ. Đồng thời, cháu K sống cùng bà P và bà P xin được nuôi dưỡng cháu K nhưng ông Lê Văn L không phản đối nên căn cứ vào Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, giao cho bà Trần Kim P được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Lê Đăng K. Đồng thời, ghi nhận ý chí tự nguyện của bà P về việc không yêu cầu ông L cấp dưỡng cho cháu K. Đối với cháu Lê Thị Anh T hiện nay đang sống cùng ông Lê Văn L, được phát triển đầy đủ về mặt thể chất và tinh thần, bà Trần Kim P đồng ý để ông Lê Văn L trực tiếp nuôi dưỡng cháu T và không cấp dưỡng, ông L không phản đối và không có ý kiến gì. Hơn nữa, theo Tờ nguyện vọng đề ngày 30/6/2023 của cháu Lê Thị Anh T thì cháu T có nguyện vọng được sống chung với ông Lê Văn L nên căn cứ vào Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, giao cho ông Lê Văn L được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Lê Thị Anh T. Đồng thời, bà Trần Kim P không phải cấp dưỡng cho cháu T.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Trần Kim P phải chịu là 300.000 đồng theo điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[7] Toàn bộ quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu là có căn cứ pháp lý và cơ sở thực tiễn như đã nhận định ở trên, Hội đồng xét xử cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đã nêu.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 và khoản 2 Điều 143, khoản 1 Điều 144, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Trần Kim P được ly hôn với ông Lê Văn L.
- Về quyền nuôi con chung: Giao cho bà Trần Kim P được nuôi dưỡng cháu Lê Đăng K (giới tính: Nam); sinh ngày 29/4/2021 đến đủ 18 tuổi. Ghi nhận ý chí tự nguyện của bà Trần Kim P về việc không yêu cầu Lê Văn L cấp dưỡng cho cháu Lê Đăng K. Giao cho ông Lê Văn L được nuôi dưỡng cháu Lê Thị Anh T (giới tính: Nữ); sinh ngày 30/6/2016 đến đủ 18 tuổi. Bà Trần Kim P không phải cấp dưỡng cho cháu Lê Thị Anh T.
Trong thời gian bà Trần Kim P và ông Lê Văn L nuôi dưỡng con chung, không ai được quyền ngăn cản sự thăm nom, chăm sóc, giáo dục của cha mẹ đối với con chung.
Vì quyền lợi về mọi mặt của cháu Lê Đăng K và cháu Lê Thị Anh T, bà Trần Kim P và ông Lê Văn L có thể yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi nghĩa vụ và mức cấp dưỡng cho con; bà Trần Kim P và ông Lê Văn L có thể yêu cầu giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Các đương sự thực hiện quyền này theo quy định pháp luật.
- Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về án phí:
- - Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Trần Kim P phải chịu là 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0008024 ngày 07/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, bà P đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Minh Tuấn |
Bản án số 75/2023/HNGĐ-ST ngày 21/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 75/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: Trần Kim Ph; bị đơn: Lê Văn L (ly hôn, tranh chấp về nuôi con)
