Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 – CẦN THƠ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 75/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 09/12/2025
V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Mai

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Minh Phương
  2. Bà Lý Thị Kim Hân

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ An Trinh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

Trong ngày 09 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án Nhân dân Khu vực 1 - Cần Thơ xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 279/2025/TLST-HN ngày 22 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 953/2025/QĐXX-ST ngày 07 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Trần Thanh V, sinh năm 1974

Địa chỉ: số A, khu phố H, xã T, tỉnh Tây Ninh

Bị đơn: Bà Lê Thị D, sinh năm 1976

Địa chỉ: số C T, khu V, phường T, thành phố Cần Thơ

(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 17/7/2025 và bản tự khai, nguyên đơn – ông Trần Thanh V trình bày:

Ông và bà Lê Thị D tự nguyện tiến đến hôn nhân có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện P, tỉnh Hậu Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn. Quá trình chung sống, giữa ông bà phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Ông bà đã cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không đạt kết quả nên đã sống ly thân từ tháng 11/2024 cho đến nay. Do đó, ông yêu cầu được ly hôn với bà D.

Ông và bà D có 02 con chung tên Trần Thị Thanh H (nữ) sinh ngày 09/9/2004 và Trần Thị Thanh H1 (nữ) sinh ngày 27/7/2009. Từ khi ông bà sống ly thân đến nay thì 02 con chung ở với bà D. Cháu H đã trưởng thành, còn cháu H1 do đang học lớp 11 tại Cần Thơ nên để ổn định cuộc sống của cháu H1 thì ông đống ý để bà D tiếp tục trực tiếp chăm sóc, giáo dục con chưa thành niên, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng, ông sẽ có trách nhiệm với các con. Khi các cháu lớn thì các cháu muốn ở với ông hay ở với bà D đều được.

Về tài sản chung: Ông và bà D tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Nếu sau này phát sinh tranh chấp thì sẽ khởi kiện thành vụ kiện khác.

Trong thời gian chung sống ông và bà D không có nợ chung.

Bị đơn – bà Lê Thị D trình bày như ông V đã trình bày về quá trình tiến đến hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung. Bà D xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đồng ý ly hôn theo yêu cầu của ông V.

Do các đương sự có yêu cầu giải quyết vắng mặt nên vụ kiện thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được và được đưa ra xét xử.

Tại phiên tòa:

Ông V và bà D có đơn xin văng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Ông Trần Thanh V và bà Lê Thị D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện P, tỉnh Hậu Giang (cũ) cấp giấy chứng nhận kết hôn số 52, quyển số 01 ngày 06/5/2004 nên là hôn nhân hợp pháp. Ông Trần Thanh V khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bà Lê Thị D nên xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp ly hôn”, tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Khu vực 1 – Cần Thơ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ông Trần Thanh V và bà Lê Thị D có yêu cầu giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông V và bà D.

  1. Xét yêu cầu khởi kiện của ông Trần Thanh V:

Theo ông Trần Thanh V trình bày thì trong quá trình chung sống giữa ông và bà Lê Thị D phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống dẫn đến cuộc sống không được hạnh phúc. Ông bà đã tìm biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không thành và đã sống ly thân khoảng 01 năm nay nên ông yêu cầu được ly hôn với bà D. Bà D cũng thống nhất ly hôn theo yêu cầu của ông V vì không còn tình cảm vợ chồng. Từ đó, cho thấy hôn nhân giữa ông V và bà D mâu thuẫn đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của ông V là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Ông V và bà D thống nhất trình bày có 02 con chung tên Trần Thị Thanh H (nữ) sinh ngày 09/9/2004 (đã trưởng thành) và Trần Thị Thanh H1 (nữ) sinh ngày 27/7/2009. Ông V và bà D đều thống nhất bà D là người trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung chưa thành niên, bà D không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con. Cháu H1 cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử giao cháu H1 cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Bà D không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện của bà D. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng nuôi con được pháp luật quy định cho cha, mẹ trực tiếp nuôi con và cha mẹ không trực tiếp nuôi con để bảo vệ lợi ích mọi mặt của con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Đồng thời, pháp luật cũng quy định việc thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung là quyền và nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con, không ai có quyền ngăn cản.

Về tài sản chung: Ông V và bà D xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Ông V và bà D xác định không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Nếu sau này phát sinh tranh chấp và có đơn kiện sẽ được xem xét giải quyết thành vụ kiện khác theo quy định.

  1. Về án phí: Ông V phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

  • Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Điều 146, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân Sự;
  • Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – ông Trần Thanh V.
    • - Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Thanh V được ly hôn với bà Lê Thị D.
    • - Về con chung: Giao con chung tên Trần Thị Thanh H1 (nữ) sinh ngày 27/7/2009 cho bà Lê Thị D trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục; bà Lê Thị D không yêu cầu ông Trần Thanh V cấp dưỡng nuôi con.
    • Việc thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung là quyền và nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con, không ai có quyền ngăn cản.
    • - Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét. Nếu sau này phát sinh tranh chấp và có đơn kiện sẽ được xem xét giải quyết thành vụ kiện khác.
  2. Về án phí: Ông Trần Thanh V phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, cấn trừ vào 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí ông Trần Thanh V đã nộp theo biên lai thu số 0002982 ngày 10/9/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ thì ông Trần Thanh V đã nộp đủ tiền án phí.
  3. Ông Trần Thanh V và bà Lê Thị D được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSNDKV1-CT;
- PTHADSKV1-CT;
- UBND P. Đại Thành, TP. Cần Thơ
(GCNKH số 52 ngày 06/5/2004);
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Thị Thúy Mai
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2025/HNGĐ-ST ngày 09/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – CẦN THƠ về ly hôn

  • Số bản án: 75/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Trần Thanh V khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà Lê Thị D
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger