|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG TỈNH SÓC TRĂNG Bản án số: 75/2025/HS-ST Ngày 27 - 5 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Hoàng Nam. |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Dư Văn Thanh. |
| Ông Nguyễn Quốc Tuấn. |
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thuận - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ánh Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2025, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 62/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 68/2025/QĐXXST - HS ngày 14/5/2025 đối với bị cáo:
Trương Nhựt T, sinh ngày: 24/6/1991 tại Sóc Trăng. Nơi thường trú: số I đường P, Khóm C, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Nơi ở: số C đường C, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Không rõ và bà Lê Thị Mỹ H; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không; tiền án: Có 01 lần (ngày 29 tháng 3 năm 2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 01 năm 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 23/11/2024 chưa được xóa án tích; nhân thân: Vào ngày 23 tháng 4 năm 2019 và ngày 29 tháng 7 năm 2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 tháng và 24 tháng và vào ngày 30 tháng 9 năm 2009 bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 05 năm tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 14/02/2014 đã xóa án tích; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 16/02/2025 cho đến nay (có mặt).
- Bị hại: Ông Võ Minh T1, sinh năm 1963. Địa chỉ: số C, đường L, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Người có quyền, nghĩa vụ liên quan vụ án: Ông Thái Hoàng T2, sinh năm 1986. Địa chỉ: số I, đường Q, ấp T, xã Đ, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng hơn 08 giờ 00 phút, ngày 15 tháng 02 năm 2025, Trương Nhựt T đi bộ từ nhà số C, đường C, phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng ra khu vực Bệnh viện đa khoa tỉnh S với ý định có ai thuê gì thì làm để kiểm tiền tiêu xài. Khi đến trước nhà số C, đường L, khóm E, phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng thì T thấy có 01 chiếc xe mô tô đã cũ, màu đỏ, biến số 83H4-2723, đậu trước nhà không ai trông coi và có chìa khoá còn trên xe nên T nảy sinh ý định chiếm đoạt xe này. Với ý định đó, T đến chiếc xe này dùng tay mở khoá và đạp nổ máy điều khiển xe đi tìm nơi tiêu thụ. T điều khiển xe đến điểm mua phế liệu của ông Thái Hoàng T2, tại số I, đường Q, ấp T, tại xã Đ, huyện M, tỉnh Sóc Trăng để bán xe, T bán xe cho ông T2 được 800.000 đồng, T tiêu xài hết số tiền 692.000 đồng số tiền còn lại là 108.000 đồng Thanh đã giao nộp cho Cơ quan điều tra.
Căn cứ tại kết luận định giá tài sản số 19/KL.HĐĐG ngày 28/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản của Ủy ban nhân dân thành phố S Kết luận: 01 (một) xe mô tô, biển số 83H4-2723, nhãn hiệu: Sutan, loại xe: nữ, màu đỏ-đen, đã qua sử dụng, giá trị sử dụng còn lại 20%, có giá là 3.000.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 78/CT-VKSTPST ngày 23/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố bị cáo Trương Nhựt T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng giữ nguyên quyết định truy tố về hành vi của bị cáo Trương Nhựt T và đề nghị Tòa án tuyên bố bị cáo Trương Nhựt T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: ngày 29/3/2023 bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 01 năm 06 tháng tù giam về tội “ Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 23/11/2024 chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này bị cáo thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Về vật chứng của vụ án: Trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra thu giữ gồm: 01(một) xe mô tô, biển số 83H4-2723, nhãn hiệu: Sutan, loại xe: nữ, màu đỏ-đen; Sau khi xác minh làm rõ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã trả cho chủ sở hữu là bà Ngô Thị C 01 xe mô tô như đã nêu trên. Đối số tiền Việt Nam 108.000 đồng giao trả cho ông Thái Hoàng T2.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Võ Minh T1 đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bị cáo bồi thường. Buộc bị cáo bồi thường cho người có quyền, nghĩa vụ liên quan vụ án ông Thái Hoàng T2 số tiền 800.000 đồng, bị cáo đã khắc phục số tiền 108.000 đồng nên phải tiếp tục bồi thường số tiền 692.000 đồng.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, đồng ý bồi thường cho ông Thái Hoàng T2 số tiền 800.000 đồng và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị hại ông Võ Minh T1 và người có quyền, nghĩa vụ liên quan vụ án là ông Thái Hoàng T2 vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và việc vắng mặt của đương sự nêu trên không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.
- [2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [3] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Trương Nhựt T thừa nhận nội dung cáo trạng phản ánh đúng hành vi của bị cáo, lời thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Vào ngày 15 tháng 02 năm 2025, bị cáo Trương Nhựt T, đã lén lút lấy trộm tài sản của bị hại Võ Minh T1, tại nhà số C, đường L, khóm E, phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, tài sản chiếm đoạt là 01 (một) xe mô tô, biển số 83H4-2723, nhãn hiệu: Sutan, loại xe: nữ, màu đỏ- đen, đã qua sử dụng, có giá là 3.000.000 đồng.
- [4] Bị cáo là người đủ tuổi và đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã cố ý lén lút lấy trộm tài sản của người khác nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, (khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định: Người nào trộm cắp tài sản của người khác giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm). Từ đó, Cáo trạng số 78/CT-VKSTPST ngày 23/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố bị cáo để xét xử về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan cho bị cáo.
-
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo:
- [5.1] Bị cáo có tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Vào ngày 29/3/2023 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 01 năm 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 23/11/2024 chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này bị cáo thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- [5.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
-
[6] Về vật chứng của vụ án:
- [6.1] Trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra thu giữ gồm: 01 (một) xe mô tô, biển số 83H4-2723, nhãn hiệu: Sutan, loại xe: nữ, màu đỏ-đen. Sau khi xác minh làm rõ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã trả cho chủ sở hữu là bà Ngô Thị C 01 xe mô tô như đã nêu trên, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [6.2] Đối số tiền Việt Nam 108.000 đồng bị cáo đồng ý bồi thường cho người có quyền, nghĩa vụ liên quan vụ án ông Thái Hoàng T2, nên giao trả cho ông Thái Hoàng T2.
- [7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Võ Minh T1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với người có quyền, nghĩa vụ liên quan vụ án ông Thái Hoàng T2 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 800.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường và khắc phục trước số tiền Việt Nam 108.000 đồng (là tiền vật chứng đã thu giữ trong vụ án), buộc bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 692.000 đồng.
- [8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
- [9] Đối với ông Thái Hoàng T2 là người mua tài sản của bị cáo trộm mà có, nhưng do ông T2 không biết, nên không xử lý hình sự đối với ông T2.
- [10] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng trình bày quan điểm luận tội và các biện pháp tư pháp đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Khoản 1 Điều 584 và khoản 1 Điều 589 Bộ luật Dân sự.
- Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố: Bị cáo Trương Nhựt T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Trương Nhựt T một (1) năm 6 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/02/2025.
- Về vật chứng của vụ án: Đối số tiền Việt Nam 108.000 (một trăm lẻ nghìn) đồng giao trả cho ông Thái Hoàng T2 theo biên lai thu số 0000174 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng.
-
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Võ Minh T1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét. Buộc bị cáo bồi thường cho người có quyền, nghĩa vụ liên quan vụ án ông Thái Hoàng T2 số tiền 692.000 (sáu trăm chín mươi hai nghìn) đồng.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người có quyền thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng người bị thi hành án còn phải trả lãi cho người có quyền thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
- Về án phí: Buộc bị cáo Trương Nhựt T chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
-
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. (Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoàng Nam |
Bản án số 75/2025/HS-ST ngày 27/05/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng về trộm cắp tài sản (hình sự)
- Số bản án: 75/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
