TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 75/2025/HSST.
Ngày: 27-5-2025.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,
TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Kim Trang;
- Bà Đào Thị Mộng Trinh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Kim Quy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích T – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 56/2025/HSST ngày 11/4/2025; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2025/QĐXXST-HS ngày 12/5/2025 đối với bị cáo: ĐẶNG HOÀNG V - Sinh năm 1988; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Bình Thuận; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn B xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12. Nghề nghiệp: Làm nông; Cha: Đặng Văn L (chết), Mẹ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1968. Nghề nghiệp: Làm nông. Hiện ở thôn B, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Vợ: Lê Thị T2, sinh năm 1990. Bị cáo có 01 người con, sinh năm 2021. Hiện ở thôn B, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang tại ngoại tại địa phương, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt.
Bị hại: Ông Võ Văn M – Sinh năm 1991; Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận (Có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bị hại: Bà Võ Thị L1 – Sinh năm 1971; Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận (Có mặt).
Người làm chứng:
- Ông Đặng Thành D – Sinh năm 1968;
- Bà Lê Thị T2 – Sinh năm 1990;
- Bà Nguyễn Thị T1 – Sinh năm 1968;
Cùng địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Có mặt bà T2, bà T1; Vắng mặt ông D.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 16 giờ ngày 18/7/2024, Đặng Hoàng V, sinh năm 1988, ở thôn B, xã T, huyện H và Đoàn Quốc S, sinh năm 1990, ở thôn P, xã H, huyện H đang nhậu tại nhà hàng xóm của V thì V rủ S về nhà V để tiếp tục nhậu, S đồng ý. Khi V đi mua rượu có gặp bạn là Võ Văn M, sinh năm 1991, ở thôn A, xã T, huyện H nên V rủ M về nhà nhậu cùng với V và S thì M đồng ý. Đến 18 giờ cùng ngày, trong lúc nhậu, giữa S và M xảy ra mâu thuẫn cải nhau, S cầm ly thuỷ tinh ném trúng đầu gối phải của M thì được V can ngăn, S bỏ đi về. Sau đó, V và M tiếp tục nhậu thì xảy ra mâu thuẫn cải nhau và ôm vật nhau tại hành lang bên hông nhà V. M đứng dậy đi đến xe mô tô của M dùng tay mở cốp xe lên, Vũ nghĩ M lấy hung khí đánh mình nên V lấy 01 con dao (dài khoảng 40cm, bản rộng khoảng 7cm) đang để trên nền nhà cách đó khoảng 02m, cầm trên tay và đuổi đánh M. Thấy V cầm dao, M bỏ chạy ra bên hông phải nhà V, M lấy 01 cái cuốc (cán tre, lưỡi bằng kim loại, dài 1,32m) cầm trên tay đánh một cái hướng từ trên xuống về phía V nhưng không trúng, cây cuốc bị rơi xuống sân. Sau đó, M tiếp tục nhào vào để đánh, V cầm dao chém M 03 đến 04 cái (do trời tối nên V không biết trúng vị trí nào trên người M), M dùng tay phải đỡ thì bị thương tích. Mười bỏ chạy vào nhà Đặng Thành D (D1), sinh năm 1968, ở thôn B, xã T (cách nhà V khoảng 50m), V cầm dao đuổi theo M nhưng con dao bị rơi trên đường. Thấy M bị thương chảy máu ở đầu, được D1 can ngăn nên V không đánh nữa. Sau đó, M lấy xe đi về nhà và được người nhà đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B cấp cứu và điều trị, đến ngày 31/7/2024 thì xuất viện.
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 665/KLTTCT-
TTGĐYKPYBT ngày 15/8/2024 của Trung tâm giám định Y Khoa - Pháp y tỉnh
B đối với thương tích của Võ Văn M:
- + Vết thương - chấn thương vùng trán đỉnh, nứt sọ trán trái đã được điều trị hiện ổn định, để lại sẹo vết thương kích thước: (6 x 0,1)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 8% + 2%.
- + Vết thương vùng chẩm trái đã được điều trị hiện để lại sẹo kích thước: (2 x 0,2)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 1%.
- + Vết thương hình chữ L từ cạnh ngoài đến mặt lòng khớp bàn ngón 1 bàn tay phải đã được điều trị hiện để lại sẹo kích thước: (3 x 0,2)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 1%.
- + Vết thương cạnh ngoài khớp liên đốt ngón 4 bàn tay phải đã được điều trị hiện để lại sẹo kích thước: (1 x 0,2)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 1%.
- + Chấn thương gối phải hiện không còn dấu vết. Không đủ cơ sở xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể.
- Kết luận: Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Võ Văn M tại thời điểm giám định là: 13%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Kết luận khác:
- + Các vết thương do vật sắc gây ra.
- + Vết thương - chấn thương vùng trán đỉnh có chiều hướng tác động từ trên xuống dưới; Vết thương vùng chẩm trái có chiều hướng tác động từ sau ra trước; Các vết thương ở bàn tay phải có chiều hướng tác động tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây thương.
Vật chứng thu giữ và xử lý:
01 cây cuốc cán bằng tre, dài 1,32m, đường kính 0,038m, lưỡi bằng kim loại kích thước (0,29 x 0,24)m, dày 2mm không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B trả lại cho chị Lê Thị T2, sinh năm 1990, ở thôn B, xã T, huyện H là chủ sở hữu.
01 con dao dài khoảng 40cm, bản rộng khoảng 7cm là phương tiện Đặng Hoàng V gây thương tích cho Võ Văn M những V đã làm rơi nên không thu giữ được.
Về dân sự:
Bị hại Võ Văn M yêu cầu bị cáo Đặng Hoàng V bồi thường số tiền 50.436.000 đồng, gồm: Chi phí nằm viện là 5.956.000 đồng; tiền thuốc 1.200.000
đồng (không có hoá đơn chứng từ); tiền xe nhập viện 02 lần x 250.000 đồng = 500.000 đồng; tiền tái khám 02 lần x 1.000.000 đồng = 2.000.000 đồng; tiền mất thu nhập trong thời gian nằm viện là 14 ngày x 450.000 đồng = 6.300.000 đồng; tiền công chăm sóc người bệnh trong thời gian điều trị là 14 ngày x 200.000 đồng = 2.800.000 đồng; tiền ăn trong thời gian điều trị là 14 ngày x 120.000 đồng = 1.680.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần là 30.000.000 đồng. Đặng Hoàng V đã bồi thường cho bị hại Võ Văn M số tiền 10.000.000 đồng, M tiếp tục yêu cầu bị can V bồi thường số tiền 40.436.000 đồng còn lại.
Tại bản cáo trạng số 62/CT-VKSHTB ngày 08/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc truy tố Đặng Hoàng V về tội “Cố ý gây thương tích” theo Điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Đặng Hoàng V đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng Điểm đ Khoản 2 Điều 134; Điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54 và Điều 65 Bộ luật Hình sự. Phạt Đặng Hoàng V từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 03 đến 04 năm tính kể từ ngày tuyên án.
Về phần dân sự: Tại Tòa bị hại Võ Văn M cùng người đại diện theo ủy quyền của ông M là bà Võ Thị L1 xác nhận đã nhận được số tiền do Đặng Hoàng V bồi thường hai lần tổng cộng là: 40.000.000 đồng, bị hại cùng người đại diện theo ủy quyền của ông M là bà Võ Thị L1 không yêu cầu gì khác, nên không xem xét.
Tại phiên Tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, Kiểm sát viên trong quá
trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Hoàng V khai nhận về hành vi phạm tội của bị cáo đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại Tòa phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra Công an huyện H, các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ căn cứ pháp luật để khẳng định: Khoảng 18 giờ ngày 17/8/2024, tại nhà Đặng Hoàng V ở thôn B, xã T, vì lời qua tiếng lại trong lúc ngồi nhậu, Đặng Hoàng V và Võ Văn M xảy ra xô xát đánh nhau, M dùng 01 cây cuốc cán tre lưỡi bằng kim loại, dài 1,32m đánh V nhưng không trúng, V dùng 01 con dao dài khoảng 40cm, bản rộng khoảng 7cm là hung khí nguy hiểm chém Võ Văn M gây thương tích với tỷ lệ là 13%.
Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 665/KLTTCT-TTGĐYKPYBT ngày 15/8/2024 của Trung tâm giám định Y Khoa - Pháp y tỉnh B kết luận thương tích của Võ Văn M tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 13% (Mười ba phần trăm).
Hành vi trên của bị cáo Đặng Hoàng V đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” thuộc tình tiết “Dùng hung khí nguy hiểm” theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự; Do tổng tỷ lệ thương tích của bị hại là 13%, nên bị cáo phạm tội với tình tiết định khung hình phạt được quy định tại Điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định: Xuất phát từ mâu thuẫn trong cách ứng xử sinh hoạt giữa Đặng Hoàng V và Võ Văn M, dẫn đến việc Đặng Hoàng V có hành vi gây nguy hiểm xâm hại đến sức khỏe của người khác. Đặng Hoàng V đã dùng dao là vật sắt bén để chém vào người Võ Văn M gây thiệt hại về sức khỏe cho M. Bị cáo cũng nhận biết sức khỏe của bị hại M bị giảm sút và sức khỏe của mọi người dân được pháp luật bảo hộ. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự xem thường kỷ cương pháp luật, xâm phạm đến sức khỏe của người khác gây bất bình, tạo ra tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân, gây mất an ninh trật tự địa phương là nguy hiểm cho xã hội. Do đó cần phải xử lý nghiêm
để răn đe, cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên, trong vụ án này xét thấy bị hại M cũng có một phần lỗi, trong lúc xảy ra xô xát đánh nhau, M đã dùng 01 cây cuốc cán tre lưỡi bằng kim loại đánh bị cáo trước nhưng không trúng, bị cáo dùng dao chém Mười gây thương tích, Hội đồng xét xử xem xét khi lượng hình.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo đã khắc phục hậu quả, bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại, thành khẩn khai báo tỏ ra ăn năn hối cải, ngoài ra bị cáo có ông nội là người có công với nước và được bị hại bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
[6] Đối với mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo, Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp. Hội đồng xét xử xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên, nên Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự xét xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
Trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có xem xét đến nhân thân của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng ổn định và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mà áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo và giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân nơi thường trú giám sát giáo dục là phù hợp.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại Võ Văn M cùng người đại diện theo ủy quyền của bị hại xác nhận đã nhận của Đặng Hoàng V số tiền bồi thường thiệt hại hai lần tổng cộng là 40.000.000 đồng, bị hại cùng người đại diện theo ủy quyền của bị hại M không yêu cầu bồi thường gì khác, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[8] Bị cáo Đặng Hoàng V phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Khoản 1 Điều 54 và Điều 65 Bộ luật Hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Đặng Hoàng V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Đặng Hoàng V 01(Một) năm 06 (S1) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 03 (Ba) năm tính kể từ ngày tuyên án (27/5/2025).
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo V thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Đặng Hoàng V phải nộp 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo đối với bản án:
Bị cáo; bị hại và người đại diện theo ủy quyền của bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 27/5/2025).
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bạch Tuyết |
Bản án số 75/2025/HSST ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự - cố ý gây thương tích
- Số bản án: 75/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
