TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN AN DƯƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 75/2025/HS-ST Ngày 11-4-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Bùi Thị Nhàn
Ông Phạm Văn Dung
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Hường - Thư ký Toà án nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Đào Quang Liêm - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 63/2025/TLST- HS ngày 14 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Trần Văn H, sinh ngày 15 tháng 11 năm 1987 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Tổ dân phố K 1, phường A, quận An Dương, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn C và bà Phạm Thị Th; chưa có vơ, con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị bắt tạm giữ ngày 13/01/2025; tạm giam ngày 20/01/2025; có mặt.
- Trần Văn H, sinh ngày 30 tháng 3 năm 1989 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Tổ dân phố Nhu Kiều, phường A, quận An Dương, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Chu Văn T và bà Phạm Thị H; có vợ chị Bùi Thị H và 02 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị bắt tạm giữ ngày 13/01/2025; tạm giam ngày 20/01/2025; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 45 phút ngày 12/01/2025, tại nhà Trần Văn H ở tổ dân phố K 1, phường A, quận An Dương, tổ công tác Công an phường A kiểm tra, phát hiện Trần Văn H và Trần Văn H có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ tại nên phòng ngủ 01 chai nhựa hình trụ tròn cao 20cm, đường kính 06cm (mẫu KT01); số tiền 150.000đồng thu giữ của Trần Văn H; 01 xe mô tô Honda SH biển kiểm soát 15B3-918.87 thu giữ của Trần Văn H. Công an phường A đã lập biên bản và đưa H, T cùng vật chứng về Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận An Dương để giải quyết theo thẩm quyền.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Văn H, thu giữ 01 ống hút nhựa màu trắng dài 50cm (mẫu KX01); 01 túi nilon kích thước 2,5x2,5cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng (mẫu KX02).
Kết luận giám định số: 80/KL-KTHS ngày 17/01/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng, kết luận: Chất lỏng không màu của mẫu KT01 là ma túy, loại Methamphetamine, không đủ cơ sở xác định hàm lượng, khối lượng chất ma túy trên. Mẫu KX01 tìm thấy dấu vết chất ma túy, loại Methamphetamine, không đủ cơ sở xác định hàm lượng, khối lượng chất ma túy trên. Tinh thể màu trắng của mẫu KX02 là ma túy, khối lượng 0,06gam, loại Methamphetamine. Các mẫu nước tiểu ghi tên Trần Văn H và Trần Văn H đều tìm thấy chất ma túy Methamphetamine.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa Trần Văn H, Trần Văn H khai nhận: Khoảng hơn 21 giờ ngày 12/01/2025, H và T ngồi uống nước tại tổ dân phố Chiến Thắng, phường A. H rủ T mỗi người góp 150.000đồng đi mua ma túy đá về sử dụng, T đồng ý. Sau đó, cả hai đến khu vực Vĩnh Khê, phường An Đồng, T đứng ngoài vỉa hè chờ còn H vào trong ngõ mua của một thanh niên không quen biết 01 túi ma túy đá với giá 300.000đồng. Mua được ma túy, cả hai về nhà H lấy bộ sử dụng ma túy rồi đi ra cánh đồng thuộc tổ dân phố K 1, phường A. Tại đây, H đổ một ít ma túy đá vào trong coóng rồi châm lửa sử dụng trước, sau đó đưa cho T sử dụng, cả hai lần lượt sử dụng đến khi hết ma túy trong coóng thì T rút coóng thủy tinh vứt đi, H cầm chai nhựa và ống hút cùng T đi về nhà H. H tiếp tục lấy 01 coóng thủy tinh khác cắm vào chai nhựa vừa mang về rồi đổ ma túy còn lại trong túi vào coóng để cả hai cùng sử dụng, khi thấy lực lượng Công an kiểm tra thì H đổ nước trong chai nhựa, đập vỡ coóng thủy tinh và ném chiếc bật lửa đi nhưng đã bị lực lượng Công an bắt giữ cùng vật chứng. Các bị cáo xác định bản thân vi phạm pháp luật việc điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo là đúng pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Tại bản Cáo trạng số 74/CT-VKSAD ngày 14 tháng 3 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng đã truy tố các bị cáo Trần Văn H, Trần Văn H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội khẳng định việc truy tố các bị cáo Trần Văn H, Trần Văn H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Căn cứ vào tính chất, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; các điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Văn H từ 30 (ba mươi) tháng đến 33 (ba mươi ba) tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày 13/01/2025; Miễn phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Văn H từ 24 (hai mươi tư) tháng đến 27 (hai mươi bảy) tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày 13/01/2025; Miễn phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì giấy trong chứa mẫu vật xử lý sau giám định dấu niêm phong số 80MT/PC09 của phòng Kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Hải Phòng có chữ ký niêm phong của giám định viên Đỗ Thị Hoa; tịch thu sung công số tiền 150.000đồng thu giữ của Trần Văn H vào ngân sách Nhà nước.
Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan, người T hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan T hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan T hành tố tụng và người T hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về chứng cứ xác định có tội, tội danh và tình tiết định khung hình phạt:
[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với người làm chứng; biên bản bắt người trong trường hợp khẩn cấp; sơ đồ hiện trường, phù hợp với vật chứng thu giữ, Kết luận giám định số: 80/KL-KTHS ngày 17/01/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng, kết hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định: Ngày 12/01/2025, tại nhà của Trần Văn H ở tổ dân phố K 1, phường A, quận An Dương, thành phố Hải Phòng Trần Văn H và Trần Văn H đã góp mỗi người 150.000đồng để mua ma túy, Trần Văn H chuẩn bị địa điểm, dụng cụ để H và T cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt giữ. Như vậy, đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Trần Văn H, Trần Văn H đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo về tội danh trên là có căn cứ.
- Về tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[3] Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma tuý, gây mất trật tự trị an xã hội. Việc mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, trí lực của con người. Về nhân thân các bị cáo là người có đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi. Do vậy, căn cứ Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt một mức án nghiêm khắc cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và phiên tòa các bị cáo Trần Văn H, Trần Văn H có thái độ thành khẩn khai báo, nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ông Chu Văn Điểm là ông nội bị cáo T được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì nên bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Trần Văn H, Trần Văn H không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[6] Vụ án đồng phạm, Hội đồng xét xử đánh giá đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Để áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ phạm tội của từng bị cáo Hội đồng xét xử phân hoá vai trò của các bị cáo như sau: Bị cáo H là người khởi xướng, góp tiền, trực tiếp mua ma túy, cung cấp bộ dụng cụ để sử dụng ma túy; Trần Văn H góp tiền với H mua ma túy, cùng H sử dụng trái phép chất ma túy. Do vậy, bị cáo H có vai trò cao hơn bị cáo T nên phải chịu mức hình phạt cao hơn.
Xét thấy bị cáo Trần Văn H vai trò thứ yếu, nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên xử phạt bị cáo ở mức khởi điểm của khung hình phạt.
- Về các vấn đề khác:
[7] Về hình phạt bổ sung: Xét hành vi tổ chức sử dụng trái phép ma túy của các bị cáo Trần Văn H, Trần Văn H không mang tính vụ lợi, hoàn cảnh khó khăn, không có tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ số ma túy, dụng cụ sử dụng ma túy sau khi giám định được niêm phong trong 01 phong bì giấy chứa mẫu vật xử lý sau giám định dấu niêm phong số 80MT/PC09 của phòng Kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Hải Phòng có chữ ký niêm phong của giám định viên Đỗ Thị Hoa và số tiền 150.000đồng của Trần Văn H, chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận An Dương giải quyết theo vụ án. Xét số mẫu vật còn lại sau giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành, bộ sử dụng ma túy không có giá trị sử dụng tịch thu tiêu hủy. Số tiền 150.000đồng thu giữ của bị cáo H là khoản tiền bị cáo T đưa cho H mua ma túy nên tịch thu sung công.
[9] Đối tượng bán ma túy cho bị cáo H, chưa xác định được nhân thân lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau
[10] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; các điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự (bị cáo Trần Văn H được áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự).
Tuyên bố các bị cáo Trần Văn H, Trần Văn H đồng phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
- - Xử phạt bị cáo Trần Văn H 33 (ba mươi ba) tháng tù.
- - Xử phạt bị cáo Trần Văn H 24 (hai mươi tư) tháng tù.
Thời hạn tù của các bị cáo Trần Văn H, Trần Văn H tính từ ngày 13/01/2025. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo Trần Văn H, Trần Văn H.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì giấy trong chứa mẫu vật xử lý sau giám định dấu niêm phong số 80MT/PC09 của phòng Kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Hải Phòng có chữ ký niêm phong của giám định viên Đỗ Thị Hoa.
- - Tịch thu sung công số tiền 150.000đồng thu giữ của Trần Văn H.
(theo Biên bản giao, nhận tài liệu, vật chứng ngày 17/3/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận An Dương, thành phố Hải Phòng và Chi cục Thi hành án dân sự quận An Dương, thành phố Hải Phòng ).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016 buộc các bị cáo Trần Văn H, Trần Văn H mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Trần Văn H, Trần Văn H có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời H thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thu Hương |
Bản án số 75/2025/HS-ST ngày 11/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 75/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Hiệu, Chu Văn Tiến - Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
