Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2025/KDTM-PT

Ngày: 10/4/2025

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thanh Nhàn
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Quỳnh Anh
Bà Phùng Thị Như Mai

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Thy Thơ

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 25 tháng 3 và ngày 10 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án về kinh doanh thương mại thụ lý số: 251/2024/TLPT-KDTM ngày 04 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 77/2024/KDTM-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 286/2025/QĐXX-PT ngày 07 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 2091/2025/QĐ-PT ngày 25 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V; Địa chỉ trụ sở: H L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội; Địa chỉ liên hệ: Tầng A, Số I C, Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: ông Ma Khắc K, ông Huỳnh Minh Đ, ông Lê Gia Đ1, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 85/2025/UQN-PGĐ ngày 10/01/2025) - có mặt

- Bị đơn: Công ty TNHH MTV P; Địa chỉ trụ sở: 7 S, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: ông Võ Minh K1; Địa chỉ: A T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền lập ngày 31/5/2024 tại Văn phòng C1) – có mặt

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: ông Phi Quyết C là Luật sư thuộc văn phòng L1; Địa chỉ: A (tầng trệt) đường 30 Khu nhà ở T, Phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh – có mặt

1

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1954; Địa chỉ thường trú: 09 Đường số D, Khu phố E, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh - có mặt

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: ông Phi Quyết C là Luật sư thuộc văn phòng L1; Địa chỉ: A (tầng trệt) đường 30 Khu nhà ở T, Phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh – có mặt

2. Bà Phạm Nguyễn Hồng A, sinh năm 1991; Địa chỉ thường trú: 09 Đường số D, Khu phố E, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Nguyễn Hồng A là: Ông Võ Minh K1, sinh năm 1989; Địa chỉ: A T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (theo Giấy ủy quyền lập ngày 20/5/2024 tại Văn phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh) - có mặt

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: ông Phi Quyết C là Luật sư thuộc văn phòng L1; Địa chỉ: A (tầng trệt) đường 30 Khu nhà ở T, Phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh – có mặt

3. Bà Nguyễn Thị Xuân L, sinh năm 1958; Địa chỉ thường trú: A T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị Xuân L: Ông Nguyễn Bá H; địa chỉ liên hệ: 4 L, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền lập ngày 28/02/2025 tại Văn phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh) – có mặt

4. Ông Nguyễn Thuận Hồng D, sinh năm 1987; Địa chỉ thường trú: A B, Phường C, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh - có mặt

Người kháng cáo: Công ty TNHH MTV P, bà Nguyễn Thị Xuân L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 12/4/2014 của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần V và ý kiến trình bày tại cấp sơ thẩm của có ông Lê Gia Đ1 là người đại diện theo ủy quyền như sau:

Công ty TNHH MTV P (viết tắt là Công ty) đã vay vốn tại Ngân hàng TMCP V (viết tắt là Ngân hàng) theo Hợp đồng cho vay hạn mức số H09/21252 ngày 26/4/2021 và Hợp đồng cho vay số CLC-6485-01 ngày 25/10/2023. Căn cứ các Hợp đồng tín dụng nêu trên, Ngân hàng và Công ty đã lần lượt thỏa thuận, xác lập các Khế ước nhận nợ, cụ thể như sau:

Đối với Hợp đồng cho vay hạn mức số H09/21252 ngày 26/4/2021;

Khế ước nhận nợ lần 01/số: H09/21252-01 ngày 25/5/2021 với số tiền vay là 500.000.000 đồng; thời hạn vay là 36 tháng; ngày giải ngân là ngày 20/5/2021, ngày đến hạn là ngày 20/5/2024; Lãi suất tại thời điểm giải ngân là 19%/năm (365 ngày). Lãi suất cho vay trong hạn sẽ được cố định trong vòng 01 tháng. Hết thời hạn một tháng, lãi suất cho vay sẽ được điều chỉnh định kỳ 01 tháng/01 lần. Mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng mức lãi suất bán

2

vốn của bên ngân hàng do Hội sở chính của bên Ngân hàng áp dụng đối với khoản giải ngân có kỳ hạn trên 02 đến 03 năm với biên độ 11.9%/năm.

Trong Khế ước nhận nợ lần 01/số: H09/21252-01 ngày 25/5/2021, các bên thỏa thuận rằng, Khách hàng phải trả nợ gốc cho Bên Ngân hàng theo định kỳ 01 tháng 01 lần vào ngày 15. Kỳ trả nợ gốc đầu tiên vào ngày 15/6/2021, tổng cộng gồm 36 kỳ. Số tiền nợ gốc mà khách hàng phải trả mỗi kỳ là 13.900.000 đồng (Bằng chữ: Mười ba triệu chín trăm nghìn đồng). Riêng kỳ cuối cùng trả 13.500.000 đồng (Bằng chữ: Mười ba triệu năm trăm nghìn đồng).

Các bên cũng thỏa thuận rằng: Khách hàng phải trả tiền lãi cho Bên Ngân hàng theo định kỳ 01 tháng 01 lần vào ngày 15. Kỳ trả nợ lãi đầu tiên vào ngày 15/06/2021.

Ngày 15/01/2024, khoản vay nêu trên đã chuyển nợ quá hạn vì Công ty đã không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi định kỳ hằng tháng theo thỏa thuận nêu trên. Tạm tính đến ngày 27/09/2024, Công ty đã thanh toán số tiền nợ gốc là: 430.900.004 đồng và thanh toán số tiền nợ lãi là: 154.646.585 đồng. Còn nợ lại số tiền 82.276.184 đồng (bao gồm nợ gốc: 69.099.996 đồng; nợ lãi trong hạn: 579.782 đồng; nợ lãi quá hạn: 14.555.583 đồng; nợ lãi chậm trả: 40.823 đồng).

Hợp đồng cho vay số CLC-6485-01 ngày 25/10/2023;

Khế ước nhận nợ số 071223-5539480-ONL-3 ngày 07/12/2023 với số tiền vay là 376.513.273 đồng; thời hạn vay là 12 tháng; ngày giải ngân là ngày 08/12/2023, ngày đến hạn là ngày 06/12/2024; Lãi suất tại thời điểm giải ngân là 18.5%/năm (365 ngày). Lãi suất cho vay trong hạn sẽ được cố định trong vòng 01 tháng. Hết thời hạn một tháng, lãi suất cho vay sẽ được điều chỉnh định kỳ 01 tháng/01 lần. Mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng mức lãi suất bán vốn của bên ngân hàng do Hội sở chính của bên Ngân hàng áp dụng đối với khoản giải ngân có kỳ hạn 12 tháng với biên độ 11%/năm.

Trong Khế ước nhận nợ số 071223-5539480-ONL-3 ngày 07/12/2023, các bên thỏa thuận rằng, Khách hàng phải trả nợ gốc cho Bên Ngân hàng theo định kỳ 01 tháng 01 lần vào ngày 15. Kỳ trả nợ gốc đầu tiên vào ngày 15/12/2023, tổng cộng gồm 12 kỳ. Số tiền nợ gốc mà khách hàng phải trả mỗi kỳ là 31.376.106 đồng (Bằng chữ: Ba mươi mốt triệu ba trăm bảy mươi sáu nghìn một trăm lẻ sáu đồng).

Các bên cũng thỏa thuận rằng: Khách hàng phải trả tiền lãi cho Bên Ngân hàng theo định kỳ 01 tháng 01 lần vào ngày 15. Kỳ trả nợ lãi đầu tiên vào ngày 15/12/2023.

Ngày 15/12/2023, khoản vay nêu trên đã chuyển nợ quá hạn vì Công ty đã không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi định kỳ hằng tháng theo thỏa thuận nêu trên. Tạm tính đến ngày 27/09/2024, Công ty đã thanh toán số tiền nợ gốc là 80.477.010 đồng và thanh toán số tiền nợ lãi là: 0 đồng. Còn nợ lại số tiền 363.653.161 đồng (bao gồm nợ gốc: 296.036.262 đồng; nợ lãi

3

trong hạn: 1.335.848 đồng; nợ lãi quá hạn: 66.175.647 đồng; nợ lãi chậm trả: 105.404 đồng).

Ngoài ra, Công ty còn làm Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế dành cho KHDN số 5539480 ngày 04/05/2021 với hạn mức đề nghị là 400.000.000đ, với thời hạn 60 tháng, lãi suất trong hạn là 32%/năm.

Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, Công ty đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán dư nợ thẻ theo thỏa thuận. Tuy nhiên, đến kỳ sao kê dư nợ ngày 06/11/2023 và kỳ sao kê dư nợ ngày 06/12/2023, Công ty TNHH MTV P đã không thực hiện thanh toán đúng dư nợ thẻ tín dụng cần phải thanh toán. Do đó, ngày 21/01/2024, Ngân hàng đã chuyển nợ quá hạn và áp dụng tính lãi suất quá hạn đối với khoản nợ nêu trên.

Các khoản tín dụng nêu trên được bảo lãnh bằng toàn bộ tài sản cá nhân của bà Phạm Nguyễn Hồng A, ông Nguyễn Thuận Hồng D, bà Nguyễn Thị Xuân L, bà Nguyễn Thị Q lần lượt theo các Hợp đồng bảo lãnh như sau:

  • Hợp đồng bảo lãnh số: H09/21252/HDBL.01 ngày 26/04/2021 ký giữa V1 và bà Phạm Nguyễn Hồng A.
  • Hợp đồng bảo lãnh số: H09/21252/HDBL.02 ngày 26/04/2021 ký giữa V1 và ông Nguyễn Thuận Hồng D, Nguyễn Thị Xuân L.
  • Hợp đồng bảo lãnh số: CLC-4685-5539480-C-01 ngày 25/10/2023 ký giữa V1 và bà Nguyễn Thị Q.

Trong quá trình sử dụng vốn vay, Công ty đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ. Ngân hàng đã nhiều lần liên hệ và làm việc Công ty để yêu cầu hoàn trả nợ vay nhưng Công ty cố tình kéo dài thời gian nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng. Tạm tính đến ngày 27 tháng 09 năm 2024, Công ty TNHH MTV P còn nợ Ngân hàng tổng cộng số tiền là 1.001.223.117 đồng, cụ thể như sau:

  • - Nợ gốc HĐTD: 365.136.258 đồng, nợ lãi trong hạn: 1.915.630 đồng, nợ lãi quá hạn: 80.731.230 đồng, Nợ lãi chậm trả: 146.227 đồng;- Nợ gốc thẻ: 399.862.583 đồng, nợ lãi trong hạn thẻ: 21.443.671 đồng, nợ lãi quá hạn thẻ: 131.987.518 đồng;

Nay nguyên đơn Ngân hàng TMCP V yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:

1/ Buộc bị đơn Công ty TNHH MTV P phải trả ngay một lần tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 27/9/2024 là 1.001.223.117 đồng;

Ngoài ra, kể từ ngày 28/09/2024 Công ty TNHH MTV P vẫn phải tiếp tục chịu lãi quá hạn theo thỏa thuận của các bên trong Hợp đồng tín dụng cho tới khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho Ngân hàng.

2/ Trường hợp bị đơn Công ty TNHH MTV P không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ theo yêu cầu nêu trên thì bà Nguyễn Thị Q, bà Phạm

4

Nguyễn Hồng A, ông Nguyễn Thuận Hồng D, bà Nguyễn Thị Xuân L phải liên đới chịu trách nhiệm thanh toán toàn bộ khoản nợ nêu trên theo các Hợp đồng bảo lãnh đã ký.

Bị đơn Công ty TNHH MTV P có ông Võ Minh K1 là người đại diện theo ủy quyền trình bày như sau:

Công ty TNHH MTV P xác nhận có ký kết với Ngân hàng TMCP V2 các hợp đồng sau: Hợp đồng cho vay hạn mức số H09/21252 ngày 26/04/2021; Hợp đồng cho vay số CLC-6485-01 ngày 25/10/2023; Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế dành cho KHDN số 5539480 ngày 04/05/2021. Xác nhận đến ngày 20/6/2024 tổng số tiền nợ với ngân hàng là 923.516.407 đồng. Do tình hình kinh tế khó khăn nên Công ty P đề nghị được giảm lãi và gia hạn thời hạn thanh toán.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phạm Nguyễn Hồng A có ông Võ Minh K1 là người đại diện theo ủy quyền trình bày: Không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thuận Hồng D có ý kiến như sau: xác nhận có ký Hợp đồng bảo lãnh số: H09/21252/HDBL.02 ngày 26/04/2021, đồng ý với yêu cầu của Ngân hàng về việc “Trong trường hợp Công ty TNHH MTV P không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ thì bà Nguyễn Thị Q, bà Phạm Nguyễn Hồng A, ông Nguyễn Thuận Hồng D, bà Nguyễn Thị Xuân L phải liên đới chịu trách nhiệm thanh toán toàn bộ khoản nợ nêu trên theo các Hợp đồng bảo lãnh đã ký”.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Q và bà Nguyễn Thị Xuân L: Vắng mặt trong quá trình tố tụng tại cấp sơ thẩm.

Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 77/2024/KDTM-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định như sau:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

1.1 Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên P phải trả ngay một lần cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 27/9/2024 là 1.001.223.117 (Một tỷ, không trăm lẻ một triệu, hai trăm hai mươi ba ngàn, một trăm mười bảy) đồng trong đó: Nợ gốc là 365.136.258 đồng; Nợ lãi trong hạn là 1.915.630 đồng; Nợ lãi chậm trả là 146.227 đồng; Nợ lãi quá hạn là 80.731.230 đồng; Nợ gốc của thẻ là 399.862.583 đồng; Nợ lãi trong hạn của thẻ là 21.443.671 đồng; Nợ lãi quá hạn của thẻ là 131.987.518 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên P còn phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng đã ký kết.

5

1.2 Trường hợp Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên P không trả hoặc trả không đầy đủ các khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V thì bà Phạm Nguyễn Hồng A, ông Nguyễn Thuận Hồng D, bà Nguyễn Thị Xuân L, bà Nguyễn Thị Q có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V theo các hợp đồng bảo lãnh đã ký kết.

Ngoài ra bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án của đương sự.

Bà Nguyễn Thị Xuân L có đơn kháng cáo đề ngày 10/10/2024, có nội dung kháng cáo một phần bản án sơ thẩm về việc tuyên buộc bà L có nghĩa vụ liên đới trả nợ thay cho Công ty P do cấp phúc thẩm chưa xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ có tại hồ sơ làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà L. Đề nghị hủy một phần bản án sơ thẩm đã tuyên buộc bà L có nghĩa vụ liên đới trả nợ thay cho Công ty P.

Công ty TNHH MTV P có đơn kháng cáo đề ngày 11/11/2024 có nội dung kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm do chưa xem xét đến hoàn cảnh khó khăn của Công ty dẫn đến việc chậm trả nợ và tính lãi suất quá cao chưa hợp lý. Đề nghị sửa bản án sơ thẩm giảm lãi suất và giãn thời gian trả nợ cho Công ty P.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người đại diện hợp pháp của bị đơn trình bày kháng cáo: Bị đơn đề nghị được xem xét lại lãi suất vì mức lãi suất mà Ngân hàng áp dụng đối với bị đơn là quá cao so với thị trường, đồng thời trong thời gian ảnh hưởng dịch covid kinh tế khó khăn Bị đơn đã nhiều lần đề nghị được xem xét giảm lãi nhưng không được Ngân hàng chấp nhận. Đề nghị cấp phúc thẩm xem xét giảm, miễn lãi cho Bị đơn.

Người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị Xuân L trình bày kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Xuân L chỉ biết bị Ngân hàng khởi kiện bà cho đến khi được người nhà thông báo về phiên tòa xét xử sơ thẩm vào ngày 27/9/2024 nên bà đã làm đơn xin vắng mặt và nêu ý kiến về việc Nguyễn Hồng D giả mạo chữ ký của bà trong hợp đồng bảo lãnh nên bà không liên quan trong vụ kiện nhưng không được bản án sơ thẩm xem xét. Do vậy, bà L kháng cáo và có đơn yêu cầu giám định chữ ký bà L trong hợp đồng bão lãnh để chứng minh bà không ký hợp đồng bảo lãnh với Ngân hàng, đề nghị cấp phúc thẩm hủy phần quyết định của bản án sơ thẩm về việc buộc bà L có nghĩa vụ trả nợ thay cho bị đơn là Công ty P vì không có liên quan.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Nguyên đơn không đồng ý toàn bộ kháng cáo của bà Nguyễn Thị Xuân L và bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm bác kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm với lý do:

  • - Việc bà Nguyễn Thị Xuân L yêu cầu giám định chữ ký tại cấp phúc thẩm là đã quá thời hạn theo quy định tại Điều 102 Bộ luật Tố tụng dân sự vì

6

đương sự chỉ được đưa ra yêu cầu giám định trước khi tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm, quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự.

  • - Về yêu cầu giảm lãi của Bị đơn là không phù hợp với hợp đồng đã ký. Việc tính lãi đã được Nguyên đơn căn cứ đúng quy định của hợp đồng và các quy định khác của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Q trình bày: đề nghị xem xét chấp nhận kháng cáo của bị đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thuận Hồng D trình bày: đề nghị xem xét chấp nhận kháng cáo của bị đơn.

Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Nguyễn Hồng A trình bày: đề nghị xem xét chấp nhận kháng cáo của bị đơn.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:

  • - Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã chấp hành theo quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử phúc thẩm vụ án.
  • - Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng vụ án: các đương sự trong vụ án đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung vụ án: Yêu cầu giám định chữ ký trên hợp đồng bảo lãnh của bà Nguyễn Thị Xuân L được đưa ra sau khi có quyết định xét xử của cấp sơ thẩm là quá thời hạn quy định nên không được chấp nhận. Đồng thời căn cứ vào các tài liệu khác như biên bản họp thành viên công ty P ngày 12/4/2021 về việc thông qua phương án nhận cấp tín dụng và dùng tài sản tín chấp của các thành viên công ty trong đó có bà L là thành viên góp vốn, cũng như quan hệ mẹ con giữa bà L và ông Võ Minh K1 để xác định ý chí của bà L có đồng ý bảo lãnh vay cho Công ty P. Vì vậy yêu cầu giám định chữ ký trên hợp đồng là không cần thiết nên đề nghị không chấp nhận. Đối với kháng cáo của Bị đơn về mức lãi suất áp dụng là không phù hợp với hợp đồng đã ký và quy định của Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên đề nghị không chấp nhận. Từ những nhận định trên, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của các đương sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử, nhận định:

7

[1] Cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết vụ án đúng theo thẩm quyền, xác định quan hệ tranh chấp và tư cách tham gia tố tụng của các đương sự trong vụ án là đúng theo quy định của Pháp luật tố tụng.

[2] Đơn kháng cáo của Công ty P là bị đơn và bà Nguyễn Thị Xuân L là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan còn trong thời hạn kháng cáo, có hình thức và nội dung đúng quy định nên được chấp nhận.

[3] Xét yêu cầu giám định chữ ký của bà Nguyễn Thị Xuân L: Tại cấp phúc thẩm bà L nộp đơn đề nghị giám định chữ ký trên Hợp đồng bảo lãnh số H09/21252/HDBL.02 ngày 26/4/2021 mà Ngân hàng cung cấp cho Tòa án để yêu cầu bà phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho Bị đơn, bà L xác định chữ ký trên hợp đồng này không phải là của bà. Do đây là yêu cầu về thu thập chứng cứ mới phát sinh tại cấp phúc thẩm nên cần được xem xét theo quy định của Điều 287 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[4] Nhận thấy, tại đơn xin vắng mặt ngày 27/9/2024 của bà Nguyễn Thị Xuân L (bút lục 130) có nội dung “Nay tôi đã gần 70 tuổi và đang mắc nhiều bệnh, ... không thể đến tham dự phiên tòa vào lúc 14g30 ngày 27/9/2024. Tôi đã gửi kèm đơn khởi kiện liên quan đến việc NGUYỄN HỒNG D giả mạo chữ ký của tôi trong hợp đồng bảo lãnh. Kính đề nghị Quý Tòa cho cơ quan chức năng thẩm định và loại tên tôi ra khỏi danh sách những người có liên quan trong vụ việc trên”. Tại đoạn [2.4.1] của bản án sơ thẩm nhận định: “Xét, Hợp đồng bảo lãnh số H09/21252/HDBL.02 ngày 26/4/2021 được ký giữa Ngân hàng với ông Nguyễn Thuận Hồng D và bà Nguyễn Thị Xuân L, (....) xuất phát từ sự tự nguyện của các bên, nội dung thỏa thuận của các bên trong các hợp đồng nêu trên là không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên theo quy định tại Điều 117, 118 và 119 Bộ luật Dân sự thì các Hợp đồng bảo lãnh nêu trên có giá trị pháp lý và làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên (...) yêu cầu của Ngân hàng về việc buộc bà Phạm Nguyễn Hồng A, ông Nguyễn Thuận Hồng D, bà Nguyễn Thị Xuân L, bà Nguyễn Thị Q có trách nhiệm liên đới trả nợ thay Công ty P trong trường hợp Công ty P không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng là có cơ sở, phù hợp nội dung thỏa thuận tại hợp đồng, phù hợp theo quy định tại 335, 336, 338, 342 Bộ luật Dân sự”. Như vậy, ý kiến trình bày tại đơn xin vắng mặt ngày 27/9/2024 của bà L về hợp đồng bảo lãnh chưa được cấp sơ thẩm xem xét.

[5] Tại phiên tòa phúc thẩm Nguyên đơn không đồng ý yêu cầu giám định của bà L và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận đơn yêu cầu giám định của bà L vì đã quá thời hạn theo quy định tại Điều 102 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử nhận thấy khoản 1 Điều 96 quy định về giao nộp tài liệu, chứng cứ như sau: “1. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Trường hợp tài liệu, chứng cứ đã được giao nộp chưa bảo đảm đủ cơ sở để giải quyết vụ việc thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ. Nếu đương sự không giao nộp hoặc giao nộp không đầy đủ tài liệu, chứng cứ do Tòa án yêu cầu mà không có lý do chính đáng thì Tòa án căn cứ

8

vào tài liệu, chứng cứ mà đương sự đã giao nộp và Tòa án đã thu thập theo quy định tại Điều 97 của Bộ luật này để giải quyết vụ việc dân sự”. Tại cấp sơ thẩm bà L chưa được tòa án thông báo yêu cầu giao nộp bổ sung tài liệu chứng cứ để chứng minh cho lời trình bày của mình nên tại cấp phúc thẩm bà L mới nộp đơn yêu cầu giám định để chứng minh. Căn cứ Điều 287 Bộ luật Tố tụng dân sự thì yêu cầu giám định của bà L là chính đáng được Hội đồng xét xử chấp nhận. Nguyên đơn đề nghị Tòa án không chấp nhận đơn yêu cầu giám định chữ ký của bà L trên hợp đồng bảo lãnh là không phù hợp quy định về quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nên không được chấp nhận.

[6] Yêu cầu giám định chữ ký của bà L là tình tiết mới phát sinh tại cấp phúc thẩm, chưa được cấp sơ thẩm xem xét theo trình tự thủ tục về xác minh, thu thập chứng cứ do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định tại phiên tòa phúc thẩm không thể bổ sung, nên thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do vậy, cần áp dụng quy định tại khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự để hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

[7] Xét kháng cáo của Bị đơn yêu cầu xem xét lại lãi suất do Nguyên đơn áp dụng: Tại cấp phúc thẩm Bị đơn đề nghị xem xét lại lãi suất vì mức lãi suất mà Ngân hàng áp dụng đối với Bị đơn là quá cao so với thị trường, đồng thời trong thời gian ảnh hưởng dịch covid kinh tế khó khăn Bị đơn đã nhiều lần đề nghị được xem xét giảm lãi nhưng không được Ngân hàng chấp nhận.

[8] Tại phiên tòa phúc thẩm Nguyên đơn trình bày việc tính lãi đúng theo thỏa thuận trong hợp đồng và quy định của Điều 100 Luật các tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử nhận thấy tại khoản 3 Điều 100 Luật các tổ chức tín dụng quy định về “Lãi suất, phí trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng” như sau:“1. Tổ chức tín dụng được quyền ấn định và phải niêm yết công khai mức lãi suất huy động vốn, mức phí cung ứng dịch vụ trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng; 2. Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật về các tổ chức tín dụng; 3. Trường hợp hoạt động ngân hàng có diễn biến bất thường, để bảo đảm an toàn của hệ thống tổ chức tín dụng, Thống đốc Ngân hàng N1 quy định cơ chế xác định lãi suất, phí trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng”. Mức lãi suất trong các hợp đồng tín dụng mà Nguyên đơn ký áp dụng cho Bị đơn lần lượt là 18,5%/năm, 19%/năm và lãi suất đang tính quá hạn là 28% đến 31%/năm là rất cao hơn so với mặt bằng lãi suất trung bình trên thị trường hiện nay. Đồng thời, trong giai đoạn sau dịch Covid -19 đến nay Ngân hàng N1 đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ lãi suất cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc đối tượng áp dụng của Luật hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa như: Thông tư số 01/2020/TT-NHNN ngày 13/3/2020 quy định về việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng do dịch Covid – 19; Chỉ thị số 02/CT-NHNN ngày 31/3/2020, chỉ đạo các TCTD nghiêm túc

9

triển khai các giải pháp cấp bách của ngành Ngân hàng để tăng cường phòng, chống và khắc phục khó khăn do tác động của dịch bệnh Covid-19; Quyết định 576/QĐ-NHNN năm 2023 ngày 31/03/2023, Quyết định số 314/QĐ-NHNN ngày 14 tháng 3 năm 2023 của Thống đốc Ngân hàng N1 về mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng đồng Việt Nam của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng vay để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ một số lĩnh vực, ngành kinh tế theo quy định tại Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016;...

[9] Các bên xác nhận trong thời gian thực hiện hợp đồng Bị đơn đã có nhiều văn bản đề nghị Nguyên đơn xem xét giảm lãi nhưng không được chấp nhận. Do vậy, khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm thì Tòa án cấp sơ thẩm cần xác minh, thu chứng cứ để xác định Bị đơn có thuộc diện được áp dụng chính sách giảm lãi suất theo các quy định nêu trên hay không. Trường hợp có căn cứ xác định bị đơn thuộc đối tượng được hỗ trợ nhưng Nguyên đơn không áp dụng chính sách giảm lãi là có vi phạm quy định của Điều 100 Luật các tổ chức tín dụng, cần xem xét điều chỉnh lãi suất phù hợp theo quy định.

[10] Ngoài ra tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện Nguyên đơn xác nhận nghĩa vụ bảo lãnh của bà Phạm Nguyễn Hồng A, ông Nguyễn Thuận Hồng D, bà Nguyễn Thị Xuân L, bà Nguyễn Thị Q là khác nhau được quy định trong từng hợp đồng bảo lãnh chứ không phải mỗi cá nhân phải có nghĩa vụ bảo lãnh cho toàn bộ khoản nợ của Bị đơn. Do vậy khi giải quyết lại, cấp sơ thẩm cần thu thập chứng cứ để xác định cụ thể nghĩa vụ bảo lãnh của từng cá nhân là bao nhiêu trong tổng khoản nợ mà Bị đơn phải trả cho Nguyên đơn.

[11] Tại tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận kháng cáo của Bị đơn và bà Nguyễn Thị L, giữ nguyên bản án sơ thẩm là không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

[12] Về án phí: Do bản án sơ thẩm bị hủy nên người kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm, nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm được xác định lại khi giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 3 Điều 148, Điều 271, Điều 273, khoản 3 Điều 308, khoản 1 Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 18 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q1;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty TNHH MTV P và bà Nguyễn Thị Xuân L:

Hủy bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 77/2024/KDTM-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

10

Chuyển hồ sơ về cho Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

2. Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: sẽ được xác định khi giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

3. Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm:

Công ty TNHH MTV P không phải chịu án phí phúc thẩm. H1 lại cho Công ty TNHH MTV P toàn bộ số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0020685 ngày 11/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bà Nguyễn Thị Xuân L không phải chịu án phí phúc thẩm. H1 lại cho bà Nguyễn Thị Xuân L toàn bộ số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0020681 ngày 11/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao;
  • - TAND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - TAND Quận 10;
  • - Cục THADS TP.HCM
  • - Chi cục THADS Quận 10;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thanh Nhàn

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2025/KDTM-PT ngày 10/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 75/2025/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/04/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của công ty TNHH MTV P, hủy bản án sơ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger