|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 75/2025/HNGĐ-ST
Ngày 08 - 4 - 2025
“V/v tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Thái Hoàng Đắc
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Diện
Ông Nguyễn Thanh Tùng
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Vũ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước.
Ngày 08 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 757/2024/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 12 năm 2024 về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lâm Thị Ú, sinh năm: 1983; Địa chỉ cư trú: Khóm A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau (xin vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Lê Thành K, sinh năm: 1979; Địa chỉ cư trú: Khóm A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bà Lâm Thị Ú trình bày tại đơn khởi kiện và tại Bản tự khai như sau:
Về hôn nhân: Năm 2005, bà với ông Lê Thành K tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, không hợp nhau. Bà xác định không còn tình cảm và yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông K.
Về nuôi con chung: Bà và ông K có 02 người con chung là Lê Huyền T, sinh ngày 21/12/2006 và Lê Tuyết L, sinh ngày 23/02/2013 đang sống với gia đình. Khi ly hôn, bà yêu cầu nuôi cả hai con, không yêu cầu ông K cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung: Bà tự thỏa thuận với ông K, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Lê Thành K đầy đủ, đúng theo quy định pháp luật nhưng bị đơn vẫn vắng mặt và không có văn bản thể hiện ý kiến, cũng không có đơn phản tố gửi cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Lê Thành K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên tòa xét xử nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn bà Lâm Thị Ú có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về hôn nhân: Năm 2005 bà Lâm Thị Ú với ông Lê Thành K tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân giữa anh chị được pháp luật công nhận là hợp pháp và được bảo vệ.
[3] Xét nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng theo bà Ú trình bày bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, không hợp nhau. Bà xác định không còn tình cảm và yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông K. Về phía ông K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt và không có văn bản thể hiện ý kiến của mình gửi cho Tòa án. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà Ú với ông K không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Ú được ly hôn với K.
[3] Về con chung: Bà Ú và ông K có 02 con chung là Lê Huyền T, sinh ngày 21/12/2006 và Lê Tuyết L, sinh ngày 23/02/2013 đang sống với gia đình. Khi ly hôn, bà Ú yêu cầu nuôi cả hai con. Xét thấy hai cháu T và L đã trên 07 tuổi, Tòa án ghi nhận ý kiến hai cháu có nguyện vọng sống với mẹ là bà Lâm Thị Ú. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao hai cháu T và L cho bà Ú nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định. Ông K không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con, theo quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình thì cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Tuy nhiên, bà Ú không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Về tài sản chung: Bà Út tự thỏa thuận với ông K, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về nợ chung: Bà Ú xác định Không có.
[7] Về án phí: Bà Ú phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 143, 147, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Lâm Thị Ú và ông Lê Thành K.
- Về con chung: Giao hai người con chung là Lê Huyền T, sinh ngày 21/12/2006 và Lê Tuyết L, sinh ngày 23/02/2013 cho bà Lâm Thị Ú trực tiếp nuôi dưỡng, không đặt ra trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con. Ông Lê Thành K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Bà Út tự thỏa thuận với ông K, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Bà Ú xác định Không có.
- Về án phí: Bà Ú phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ngày 31/12/2024, bà Ú đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0019066 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau được chuyển thu đối trừ.
Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy đinh tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Hoàng Đắc |
Bản án số 75/2025/HNGĐ-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC TỈNH CÀ MAU về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 75/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Năm 2005, bà Lâm Thị U với ông Lê Thành K tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Cái Nước, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Bà U xác định không còn tình cảm và có nhiều mâu thuẫn nên yêu cầu ly hôn với ông K.
