|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 75/2025/DS-PT Ngày 06-3-2025 V/v tranh chấp về thừa kế tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Đắc Đương
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Mến
Ông Nguyễn Văn Thành
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Duy Quyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 276/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 12 năm 2024 về việc tranh chấp về thừa kế tài sản, hủy di chúc, hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 40/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 203/2024/QĐ-PT ngày 31 tháng 12 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2025/QĐPT-DS ngày 10 tháng 01 năm 2025 và Thông báo về việc mở phiên tòa số 70/TB-TA ngày 19 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Bà Diệp Mỹ X, sinh năm 1978; địa chỉ Khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
- Ông Diệp Văn C (Diệp M), sinh năm 1983; địa chỉ ấp T, xã K, huyện T, tỉnh Trà Vinh (xin xét xử vắng mặt).
Tạm trú ấp N, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bà Diệp Mỹ X: Ông Phan Văn H, sinh năm 1987, Công ty L2, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Trà Vinh
- Bị đơn:
- Ông Võ Thanh H1, sinh năm 1984; địa chỉ ấp C, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh
- Bà Diệp Thị N, sinh năm 1954 (chết ngày 17/02/2024).
- Bà Diệp Thị N1, sinh năm 1941; địa chỉ ấp C, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh (xin xét xử vắng mặt).
- Ông Diệp T, sinh năm 1934; địa chỉ ấp C, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh (xin xét xử vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Võ Thanh H1: Ông Nguyễn Thanh H2, sinh năm 1975; địa chỉ số B đường P, Khóm B, Phường G, thành phố T, tỉnh Trà Vinh theo văn bản ủy quyền ngày 21/12/2022 (có mặt).
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn bà Diệp Thị N:
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lý Tấn T1, sinh năm 1971; địa chỉ số B đường C, Khóm C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
- Ông Diệp Văn Đ, sinh năm 1965; địa chỉ ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh (xin xét xử vắng mặt).
- Bà Mai Thị Mỹ L, sinh năm 1975; địa chỉ số B đường C, Khóm C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh (xin xét xử vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Bạch T2, sinh năm 1982; địa chỉ ấp C, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh (xin xét xử vắng mặt).
- Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T; địa chỉ số D đường M, Khóm C, Phường F, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lý Tấn T1: Ông Nguyễn Thanh H2, sinh năm 1975; địa chỉ số B đường P, Khóm B, Phường G, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (theo văn bản ủy quyền ngày 21/12/2022).
Người đại diện hợp pháp của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T: Ông Lê Văn Mười H3, Phó Giám đốc phụ trách Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T (theo văn bản ủy quyền số 2462/STNMT-VP ngày 16/7/2024) (xin xét xử vắng mặt).
- Người kháng cáo: Bà Diệp Mỹ X và ông Diệp Văn C là nguyên đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 27 tháng 10 năm 2022 và đơn khởi kiện bổ sung ngày 14 tháng 8 năm 2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ kiện nguyên đơn bà Diệp Mỹ X và ông Diệp Văn C trình bày: Nguồn gốc thửa đất số 39, diện tích 53,1m² (diện tích HLATĐB là 14,3m²), tờ bản đồ số 36, loại đất ở đô thị, tọa lạc tại Khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh là của bà Lê Thị P (cô ruột của bà X, ông C) cho mẹ tên Cao Thị C1 (Cao Thị Thanh T3) và cha Diệp D vào năm 1970, bà Cao Thị C1 không biết chữ, ông Diệp D ở bên vợ nên tự kê khai trong sổ địa chính vào năm 1983, 1995. Ông D, bà C1 sử dụng nhà, đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông D1 D vào ngày 07 tháng 9 năm 2010. Ông Diệp D chết ngày 25 tháng 4 năm 2021 và bà Cao Thị C1 chết ngày 03 tháng 12 năm 2020. Ông Diệp D và bà Cao Thị C1 có 03 người con chung là bà Diệp Mỹ X, ông Diệp Văn C (Diệp M) và một người con gái chết lúc 02 tuổi không biết họ tên. Ngoài ra, ông Diệp D và bà Cao Thị C1 không có con riêng hay con nuôi, còn ông Diệp Văn Đ là cháu ruột của ông D không phải con nuôi. Từ ngày 05 tháng 01 năm 2021 ông Diệp D bị bệnh nặng không còn biết gì, sau đó bệnh viện cho về nhà rồi chết tại nhà vào ngày 25 tháng 4 năm 2021. Bà Diệp Thị N là em ruột của ông Diệp D đã tự làm tờ di chúc, làm thủ tục đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rồi chuyển nhượng cho ông Lý Tấn T1, sau đó ông Trung chuyển N3 cho ông Võ Thanh H1 trong khi đất đang tranh chấp. Nay ông Diệp Văn C, bà Diệp Mỹ X yêu cầu hủy di chúc ngày 17 tháng 3 năm 2021 của ông Diệp D, hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Diệp Thị N với ông Lý Tấn T1 đối với thửa đất số 39, hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lý Tấn T1 với ông Võ Thanh H1 và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất cấp cho bà Diệp Thị N, ông Lý Tấn T1, ông Võ Thanh H1. Chia thừa kế theo pháp luật di sản thừa kế của ông Diệp D và bà Cao Thị C1 đối với nhà, đất thuộc thửa đất số 39, diện tích 45,7m² (phần A), thuộc thửa đất số 39, tờ bản đồ số 36, loại đất ở đô thị, tọa lạc tại Khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh làm 02 phần bằng nhau cho ông, bà mỗi người được hưởng 01 phần.
Bị đơn bà Diệp Thị N do người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Thanh H2 trình bày: Ông Diệp D với bà Cao Thị C1 sống chung với nhau có 02 người con chung là bà Diệp Mỹ X và ông Diệp Văn C. Ngoài ra trước đây ông D và bà C1 không có con đã nhận ông Đ làm con. Bà C1 không còn sống chung với ông D tại nhà, đất tranh chấp trước khi sinh bà X. Sau đó ông Diệp D tới lui nhà của bà Cao Thị C1 ở ấp V, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh sinh được bà Diệp Mỹ X và ông Diệp Văn C cho đến khoảng năm 1984 thì ông D không còn qua lại sống chung với bà C1 nữa. Nguồn gốc thửa đất số 39, diện tích 53,1m² (diện tích HLATĐB là 14,3m²), tờ bản đồ số 36, loại đất ở đô thị, tọa lạc tại Khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh là của ông Diệp D và bà Diệp Thị N chuyển nhượng của bà Lê Thị P. Sau khi chuyển nhượng thì bà N đồng ý cho ông D đứng kê khai, đăng ký thửa đất tư liệu địa chính năm 1983, 1995 và ngày 07 tháng 9 năm 2010 được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BB 941940 cho ông Diệp D. Căn nhà hiện nay bà Diệp Thị N tự bỏ tiền xây dựng. Bà N không có chồng con là em ruột của ông Diệp D cùng sống chung với ông D, chăm sóc, nuôi dưỡng ông D lúc tuổi già, lúc bị bệnh. Khi ông Diệp D còn sống đã tự nguyện lập di chúc cho bà Diệp Thị N thửa đất số 39 khi tinh thần minh mẫn, sáng suốt có 02 người làm chứng được Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T chứng thực. Sau khi ông D1 D chết, bà N thực hiện thủ tục được đứng tên quyền sử dụng đất thửa số 39 đúng quy định. Sau đó bà Diệp Thị N chuyển nhượng lại cho ông Lý Tấn T1 và ông Trung chuyển N3 lại cho ông Võ Thanh H1. Bà Diệp Thị N không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Bị đơn ông Võ Thanh H1 do người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Thanh H2 trình bày: Vào ngày 07 tháng 01 năm 2022 ông Võ Thanh H1 có chuyển nhượng của ông Lý Tấn T1 nhà, đất tranh chấp thuộc thửa đất số 39 với giá thực tế là 750.000.000 đồng có lập biên nhận. Các bên thực hiện nghĩa vụ đã giao nhận tiền và bàn giao nhà xong. Ngày 21 tháng 01 năm 2022 ông Võ Thanh H1 đã được chỉnh lý biến động đất đai đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tại thời điểm ông Võ Thanh H1 chuyển nhượng nhà, đất không có tranh chấp. Ông Võ Thanh H1 đã thực hiện chuyển nhượng, quản lý sử dụng và được đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng theo quy định nên ông H1 không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Bà Diệp Thị N1 là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn bà Diệp Thị N trình bày: Nhà và đất tranh chấp thuộc thửa đất số 39 bà không biết rõ chỉ nghe nói lại là của ông Diệp D và bà Diệp Thị N do ông Diệp D đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rồi ông Diệp D lập di chúc lại cho bà Diệp Thị N đứng tên. Sau đó, bà Diệp Thị N chuyển nhượng cho người khác. Bà không có ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ án này. Bà thống nhất theo yêu cầu của bà Diệp Thị N đã chuyển nhượng đất nên bà yêu cầu giải quyết theo quy định pháp luật. Nếu trường hợp Tòa án có chia thừa kế trong vụ án này thì bà từ chối nhận.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lý Tấn T1 do người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Thanh H2 trình bày: Vào ngày 19 tháng 11 năm 2021 ông Lý Tấn T1 với bà Diệp Thị N có ký hợp đồng chuyển nhượng nhà, đất tranh chấp thuộc thửa đất số 39 với giá thực tế là 700.000.000 đồng chia thành 02 lần thanh toán bằng tiền mặt gồm: Lần thứ nhất thanh toán khi ký hợp đồng chuyển nhượng đất vào ngày 19 tháng 11 năm 2021 bằng 500.000.000 đồng và lần thứ hai sau khi ông Lý Tấn T1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bằng 200.000.000 đồng. Ông T1 đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DD 604071 ngày 30 tháng 11 năm 2021 thì ông T1 đã giao đủ số tiền chuyển nhượng cho bà N có lập biên nhận ngày 02 tháng 12 năm 2021. Các bên đã bàn giao nhà, đất xong cho ông Lý Tấn T1 nên bà Diệp Thị N đã về sinh sống tại ấp C, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Vào ngày 07 tháng 01 năm 2022 ông Lý Tấn T1 ký hợp đồng chuyển nhượng cho ông Nguyễn Thanh H4 nhà và đất với giá là 750.000.000 đồng có lập biên nhận. Các bên thực hiện nghĩa vụ đã giao nhận tiền, bàn giao nhà xong và ông H4 đã được đứng tên giấy chứng nhận. Nay Lý Tấn T1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Diệp Văn Đ trình bày: Ông được ông Diệp D và bà Cao Thị C1 nhận làm con có khai sinh của ông thể hiện ông Diệp D và bà Cao Thị C1 là cha mẹ. Từ nhỏ, ông ở với ông D, bà C1 cho đến khi bà C1 về sinh sống tại nhà của cha, mẹ bà C1 ở ấp V, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh thì ông vẫn tiếp tục ở với ông Diệp D tại nhà và đất tranh chấp đến khoảng 30 tuổi ông lập gia đình ra ở riêng cho đến nay. Sự việc lập di chúc và cho đất ông không trực tiếp chứng kiến nhưng ông có nghe ông Diệp D nói lại là ông D lập di chúc nhà và đất cho bà Diệp Thị N. Nay ông Diệp Văn Đ không tranh chấp hay yêu cầu gì trong vụ án này. Nếu trường hợp Tòa án có chia thừa kế trong vụ án này thì ông từ chối nhận.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Bạch T2 có lời trình bày và yêu cầu như ông Võ Thanh H1.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Mai Thị Mỹ L có lời trình bày và yêu cầu như ông Lý Tấn T1.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T có văn bản trình bày ý kiến như sau: Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DC 836812 đối với thửa đất số 39, diện tích 53,1m² (diện tích HLATĐB là 14,3m²), tờ bản đồ số 36, loại đất ở đô thị, tọa lạc tại Khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh cho bà Diệp Thị N do bà N nhận thừa kế di sản theo di chúc của ông Diệp D là đúng theo trình tự, thủ tục theo quy định. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DD 604071 đối với thửa đất số 39 cho ông Lý Tấn T1 căn cứ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ông Lý Tấn T1 nhận chuyển nhượng từ bà Diệp Thị N là đúng theo trình tự, thủ tục theo quy định. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T xác nhận, chỉnh lý biến động ngày 21 tháng 01 năm 2022 đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DD 604071 đối với thửa đất số 39 cho ông Võ Thanh H1 căn cứ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ông Võ Thanh H1 nhận chuyển nhượng từ ông Lý Tấn T1 là đúng theo trình tự, thủ tục theo quy định.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 40/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh đã xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Diệp Mỹ X và ông Diệp Văn C (Diệp M) đối với yêu cầu hủy di chúc ngày 17 tháng 3 năm 2021 của ông Diệp D; hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Diệp Thị N với ông Lý Tấn T1 đối với thửa đất số 39; hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lý Tấn T1 với ông Võ Thanh H1 và hủy giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất cấp cho bà Diệp Thị N, ông Lý Tấn T1, ông Võ Thanh H1. Chia thừa kế theo pháp luật di sản của ông Diệp D và bà Cao Thị C1 đối với nhà và đất thuộc thửa đất số 39, diện tích 45,7m² (phần A), thuộc thửa đất số 39, tờ bản đồ số 36, loại đất ở đô thị, tọa lạc tại Khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo, quyền thỏa thuận, tự nguyện thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 13 tháng 9 năm 2024 nguyên đơn bà Diệp Mỹ X và ông Diệp Văn C kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết hủy toàn bộ bản án sơ thẩm số 40/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trà Cú để giải quyết lại theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bà Diệp Mỹ X và ông Diệp Văn C trình bày quan điểm bảo vệ như sau: Về nguồn gốc đất ông Lê Long Đ1 không có lập tờ xác nhận ngày 23 tháng 3 năm 2011 với nội dung xác nhận mẹ của ông là bà Lê Thị P chuyển nhượng đất cho ông Diệp D, những nội dung liên quan đến thửa đất số 39, tờ bản đồ số 36 tọa lạc tại Khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh ông Đ1 không biết, ông Lê Long Đ1 không biết ông Diệp D và bà Cao Thị C1.
Có nhiều tài liệu chứng cứ chứng minh nguồn gốc đất là của ông Cao Tấn L1 cho tặng bà Cao Thị C1 và ông Diệp D như vậy rõ ràng thể hiện di sản này là tài sản chung của vợ chồng nên ông Diệp D định đoạt là không có căn cứ. Tờ di chúc lập ngày 17 tháng 3 năm 2021 thể hiện công chứng tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, tuy nhiên qua các tài liệu thể hiện trong hồ sơ thể hiện tờ di chúc được lập tại nhà ông Diệp D, ông N2 là cán bộ Tư pháp khai di chúc do ông soạn dựa trên yêu cầu của ông H5 không phải của ông Diệp D, thủ tục công chứng không có phiếu yêu cầu công chứng nên đã vi phạm Điều 44 Luật công chứng và Điều 36 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16 tháng 02 năm 2015 về cô ng chứng, chứng thực.
Về tài sản trên đất bà Diệp Thị N khai do bà mua vật tư xây dựng nhưng không có chứng cứ chứng minh, bản di chúc vừa có viết tay vừa đánh máy nhưng phần viết tay không có điểm chỉ của ông Diệp D là trái quy định của pháp luật về văn bản công chứng. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Diệp Thị N với ông Lý Tấn T1 và giữa ông Lý Tấn T1 với ông Võ Thanh H1 là không phù hợp với quy định của pháp luật bởi vì trong hồ sơ vụ án thể hiện bà Diệp Mỹ X đã tranh chấp với ông Lý Tấn T1 được Ủy ban nhân dân thị trấn T lập biên bản tiếp xúc trong hồ sơ vụ án thì 18 ngày sau ông Lý Tấn Trung chuyển N3 cho ông Võ Thanh H1 do chính Ủy ban nhân dân thị trấn T công chứng hợp đồng chuyển nhượng là sai quy định, các hợp đồng chuyển nhượng cho bên thứ ba, thứ tư ghi cùng một giá trị là 186.000.000 đồng. Từ những cơ sở trên cho thấy cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng nên đề nghị hủy bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử. Từ khi thụ lý vụ án đến khi quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử phúc thẩm.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đối với đương sự từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Ngày 13 tháng 9 năm 2024 nguyên đơn bà Diệp Mỹ X và ông Diệp Văn C kháng cáo, việc kháng cáo của các đương sự còn trong hạn luật định cần được chấp nhận.
Xét về nội dung kháng cáo qua kết quả xác minh ông Huỳnh Kim C2 (BL213-214) di chúc ông Diệp D để lại cho bà Diệp Thị N là đúng qui định của pháp luật. Trước năm 1975 ông D, bà C1 sống chung với nhau có cất căn nhà lá trên thửa đất số 39 có nguồn gốc của bà Lê Thị P để ở cùng với bà Diệp Thị N là em ruột ông D. Quá trình chung sống, bà C1 và bà N phát sinh mâu thuẫn nên bà C1 về sinh sống tại nhà ở ấp V, xã H. Ông Diệp D là người trực tiếp quản lý, sử dụng có đăng ký, kê khai sử dụng đất theo tư liệu 1983, 1995 được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 07 tháng 9 năm 2010 cho cá nhân ông Diệp D trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp. Việc ông Diệp D lập di chúc cho bà Diệp Thị N là hợp pháp. Tuy nhiên, đây là tài sản chung của vợ chồng, việc ông D định đoạt luôn phần tài sản của bà C1 lập di chúc để lại cho bà Diệp Thị N là không đúng qui định của pháp luật. Ông Diệp D chết, hàng thừa kế của ông D gồm có 03 người con chung là Diệp Mỹ X, Diệp Văn C và Diệp Văn Đ. Như vậy, những người này phải thực hiện quyền và nghĩa vụ của ông Diệp D đối với tài sản này. Tuy nhiên, ông Diệp D đã chết thì những người này phải chịu nghĩa vụ của ông Diệp D để lại.
Bà Diệp Thị N làm thủ tục thừa kế và được cấp giấy chứng nhận cho bà Diệp Thị N nên bà N đã có quyền sử dụng hợp pháp đối với nhà, đất. Việc bà N chuyển nhượng nhà, đất thửa số 39 cho ông Lý Tấn T1 và ông T1 được cấp giấy chứng nhận là hợp pháp, đến ngày 07 tháng 01 năm 2022 ông Trung chuyển N3 lại cho ông Võ Thanh H1 được chỉnh lý biến động đất đai đứng tên giấy chứng nhận là đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Ông T1, ông H1 đã nhận chuyển nhượng nhà, đất đúng theo quy định pháp luật. Tài sản nhà, đất tranh chấp hiện nay là tài sản hợp pháp của ông Võ Thanh H1. Kháng cáo của bà Diệp Mỹ X, ông Diệp Văn C là không có căn cứ chấp nhận. Bản án sơ thẩm xét xử là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật. Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 40/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ của các đương sự người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh. Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về thủ tục tố tụng: sau khi xét xử sơ thẩm nguyên đơn bà Diệp Mỹ X và ông Diệp Văn C kháng cáo, xét thấy việc kháng cáo của đương sự còn trong hạn luật định nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- [2] Xét về nội dung yêu cầu kháng cáo: Nguyên đơn bà Diệp Mỹ X và ông Diệp Văn C kháng cáo yêu cầu hủy án sơ thẩm số 40/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.
Xét thấy trong quá trình giải quyết vụ kiện các đương sự đều thừa nhận nguồn gốc thửa đất số 39, diện tích 53,1m² (diện tích HLATĐB là 14,3m²), tờ bản đồ số 36, loại đất ở đô thị, tọa lạc tại Khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh trước đây là của bà Lê Thị P. Qua các tài liệu chứng cứ xác minh tại địa phương xác định bà Lê Thị P có chuyển nhượng thửa đất số 39 cho ông Diệp D (BL 167, 217, 250), nguyên đơn trình bày bà Lê Thị P là cô ruột tặng cho bà Cao Thị C1 nhưng không có tài liệu chứng cứ chứng minh việc tặng cho nên lời trình bày của nguyên đơn là không có cơ sở. Ông Diệp D đã cất nhà ở quản lý, sử dụng có thực hiện nghĩa vụ kê khai, đăng ký theo tư liệu địa chính năm 1983, năm 1995 và được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BB 941940 ngày 07 tháng 9 năm 2010 cho cá nhân ông Diệp D đúng quy định pháp luật không có ai tranh chấp hay khiếu nại. Sau khi căn nhà lá của ông Diệp D hư hỏng thì bà Diệp Thị N tự đứng ra mua vật tư và thuê thợ cất lại nhà như hiện nay để ông Diệp D và bà Diệp Thị N sinh sống được người bán vật tư và người thợ nhận làm nhà xác nhận (BL 232-233). Nguyên đơn bà Diệp Mỹ X và ông Diệp Văn C khi còn nhỏ có ở trên nhà, đất một thời gian để đi học rồi chuyển đi nơi khác sinh sống và không có công sức đóng góp đối với tài sản này.
- [3] Ngày 17 tháng 3 năm 2021 ông Diệp D lập di chúc để lại tài sản cho bà Diệp Thị N thửa đất số 39, diện tích 53,1m² (diện tích HLATĐB là 14,3m²), tờ bản đồ số 36, loại đất ở đô thị, tọa lạc tại Khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Tại thời điểm lập di chúc tinh thần của ông Diệp D còn minh mẫn, sáng suốt và hoàn toàn tự nguyện lập theo ý chí của ông Diệp D (BL 213-219, 234-236). Tại văn bản số 2375/BVND115-KHTH ngày 08 tháng 9 năm 2023 của Bệnh viện N4 xác định tình trạng khi xuất viện của ông Diệp D là bệnh nhân tỉnh, sinh hiệu ổn, sức cơ nửa người trái 2-3/5 (BL 462). Về hình thức của tờ di chúc khi lập có điểm chỉ của ông Diệp D có 2 người làm chứng ký xác nhận và được Ủy ban nhân dân thị trấn T chứng thực đúng về hình thức, nội dung theo quy định của pháp luật, án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Diệp Mỹ X và ông Diệp Văn C về việc hủy tờ di chúc của ông Diệp D lập ngày 17 tháng 3 năm 2021 là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
- [4] Ngày 25 tháng 4 năm 2021 ông Diệp D chết bà Diệp Thị N làm thủ tục thừa kế di sản của ông Diệp D và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 836812 ngày 15 tháng 11 năm 2021 đối với thửa đất số 39, diện tích 53,1m² (diện tích HLATĐB là 14,3m²), tờ bản đồ số 36, loại đất ở đô thị, tọa lạc tại Khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh là đúng quy định của pháp luật. Tại Điều 186 của Luật Đất đai năm 2013 có quy định “Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất khi có Giấy chứng nhận ...” đối chiếu với quy định trên thì bà Diệp Thị N có quyền sử dụng nhà, đất hợp pháp nên bà Diệp Thị N thực hiện quyền chuyển nhượng nhà, đất thửa đất số 39 cho ông Lý Tấn T1 vào ngày 19 tháng 11 năm 2021 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DD 604071 ngày 30 tháng 11 năm 2021 là đúng quy định pháp luật. Sau khi ông Lý Tấn T1 có quyền sử dụng đất hợp pháp ngày 07 tháng 01 năm 2022 đã ký hợp đồng chuyển nhượng nhà, đất cho ông Võ Thanh H1 đến ngày 21 tháng 01 năm 2022 ông Võ Thanh H1 đã được chỉnh lý biến động đất đai đứng tên giấy chứng nhận là đúng quy định pháp luật. Việc chuyển nhượng nhà, đất các bên đã thực hiện quyền, nghĩa vụ đúng theo quy định pháp luật, giao nhận đủ tiền chuyển nhượng, bà Diệp Thị N đã bàn giao tài sản cho ông Lý Tấn T1 và chuyển về sinh sống tại ấp C, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Ông Lý Tấn T1 đã bàn giao nhà và đất cho ông Võ Thanh H1 quản lý, sử dụng được các bên chuyển nhượng thừa nhận. Nhà và đất thuộc thửa số 39, diện tích 53,1m² (diện tích HLATĐB là 14,3m²), tờ bản đồ số 36, loại đất ở đô thị, tọa lạc tại Khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh khi nhận chuyển nhượng đất không tranh chấp, hiện nay là tài sản hợp pháp của ông H1 nên nhà và đất thửa đất số 39 không phải là di sản thừa kế của ông Diệp D và bà Cao Thị C1 để xem xét chia thừa kế. Do đó, án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Diệp Mỹ X và ông Diệp Văn C về việc hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Diệp Thị N với ông Lý Tấn T1 đối với thửa đất số 39, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Diệp Mỹ X và ông Diệp Văn C về việc hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lý Tấn T1 với ông Võ Thanh H1, không chấp nhận yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất cấp cho bà Diệp Thị N, ông Lý Tấn T1, ông Võ Thanh H1, không chấp nhận yêu cầu chia thừa kế di sản của ông Diệp D và bà Cao Thị C1 đối với nhà, đất thuộc thửa 39, tờ bản đồ số 36 là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
Từ những nhận định và phân tích trên xét thấy không có cơ sở để thỏa mãn yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Diệp Mỹ X, ông Diệp Văn C (Diệp M), đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh là phù hợp với các chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ kiện, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Không chấp nhận đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Diệp Mỹ X, ông Diệp Văn C (Diệp M). Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
- [5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bà Diệp Mỹ X và ông Diệp Văn C không được chấp nhận nên bà X, ông C phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 133, 500, 611, 612, 613, 624, 628, 630, 631, 632, 634, 635 và Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Diệp Mỹ X, ông Diệp Văn C (Diệp M). Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 40/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh về việc tranh chấp về thừa kế tài sản, hủy tờ di chúc, hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn bà Diệp Mỹ X, ông Diệp Văn C (Diệp M) với bị đơn ông Võ Thanh H1 và bà Diệp Thị N.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Diệp Mỹ X và ông Diệp Văn C (Diệp M) đối với yêu cầu hủy di chúc ngày 17 tháng 3 năm 2021 của ông Diệp D; không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Diệp Mỹ X và ông Diệp Văn C về việc hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Diệp Thị N với ông Lý Tấn T1 đối với thửa đất số 39, tờ bản đồ số 36, diện tích 53,1m²; không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Diệp Mỹ X và ông Diệp Văn C về việc hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lý Tấn T1 với ông Võ Thanh H1 đối với thửa đất số 39, tờ bản đồ số 36, diện tích 53,1m²; không chấp nhận yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất cấp cho bà Diệp Thị N, ông Lý Tấn T1, ông Võ Thanh H1 đối với thửa đất số 39, tờ bản đồ số 36, diện tích 53,1m²; không chấp nhận yêu cầu chia thừa kế di sản của ông Diệp D và bà Cao Thị C1 đối với nhà, đất thuộc thửa 39, tờ bản đồ số 36, diện tích 45,7m² (phần A), loại đất ở đô thị, tọa lạc tại Khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Buộc nguyên đơn bà Diệp Mỹ X và ông Diệp Văn C mỗi người phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm mỗi người đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0002567, 0002566 ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh; bà Diệp Mỹ X và ông Diệp Văn C đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Đắc Đương |
Bản án số 75/2025/DS-PT ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Số bản án: 75/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp về thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
