|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 75/2025/HS-ST
Ngày 17 tháng 02 năm 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cáp Văn Dũng; Ông Nguyễn Văn Cường.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Thành - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 17/02/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 91/2025/TLST-HS ngày 24/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2025/QĐXXST-HS ngày 06/02/2025 đối với bị cáo:
Lường Văn O, sinh năm 1995 tại tỉnh Điện Biên
Nơi ĐKHKTT: Bản Y, xã M, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên.
Nơi ở hiện nay: Khu M, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lường Văn Đ, sinh năm 1970 và con bà Lường Thị T, sinh năm 1971; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự: Không
Tiền án có 01: Tại Bản án số 80/HSST ngày 19/4/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xử phạt Lường Văn O 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Bị cáo chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm và ra trại ngày 30/12/2023.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/10/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt ở điểm cầu trực tuyến tại Trại tạm giam Công an tỉnh B).
Người tham gia tố tụng khác
- Bà Nguyễn Thị L - Cán bộ phụ trách tin học thuộc Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh (có mặt tại điểm cầu trực tuyến Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh).
- Cán bộ phụ trách tin học thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh B (Có mặt tại điểm cầu trực tuyến Trại tạm giam Công an tỉnh B).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 22 giờ 10 phút ngày 20/10/2024 tại đường gom khu công nghiệp Q thuộc phường N, thành phố B, tổ công tác của Phòng cảnh sát cơ động - Công an tỉnh B tuần tra kiểm soát bắt quả tang Lường Văn O cất giấu tại tay phải 01 gói bọc ngoài bằng giấy bạc màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng theo quy định.
Trên cơ sở Quyết định trưng cầu giám định của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, tại bản Kết luận giám định số 2393/KL-KTHS ngày 23/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 01 gói bọc ngoài bằng giấy bạc màu trắng gửi giám định có khối lượng 0,1135 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Heroine
Heroine (Heroin) có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất”.
Lường Văn O khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bản thân và nguồn gốc số ma túy như sau: Tối ngày 20/10/2024 O đi bộ từ nhà trọ tại khu M, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh đến Khu Công nghiệp Q (Oanh không nhớ địa chỉ cụ thể) để tìm mua ma túy. Tại đây, O gặp và mua 200.000 đồng ma túy của một người đàn ông không quen biết được 01 gói bọc ngoài bằng giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng. O biết đây là ma túy Heroine nên cầm gói ma túy ở tay phải rồi đi bộ để tìm chỗ sử dụng. Khi đến khu vực đường G phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt giữ như đã nêu ở trên.
Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 26/CT-VKSTS ngày 22/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh truy tố Lường Văn O về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, Lường Văn O khai nhận: Nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng. Bị cáo có thực hiện những hành vi như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Toàn bộ số ma túy bị cáo bị thu giữ mục đích sử dụng cho bản thân. Bị cáo đồng ý với kết luận giám định số ma túy đã thu giữ, thừa nhận hành vi của mình là phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh duy trì công tố tại phiên tòa hôm nay sau khi đánh giá tính chất của vụ án, phân tích, đánh giá các chứng cứ, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Lường Văn O từ 18 tháng tù đến 22 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/10/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định.
Bị cáo nhận tội, không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên Công an thành phố B, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
- Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với thời gian, địa điểm, tang vật thu được tại hiện trường, phù hợp với kết luận giám định và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã thể hiện rõ: Hồi 22 giờ 10 phút ngày 20/10/2024, tại đường G thuộc phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, Lường Văn O có hành vi cất giấu trái phép 0,1135 gam ma túy Heroine để sử dụng cho bản thân. Do vậy, hành vi của bị cáo Lường Văn O đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, phạm vào điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội. Tệ nạn ma túy làm ảnh hưởng đến các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của nhà nước; việc đấu tranh với các tội phạm về ma túy hiện nay là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân; nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách để bài trừ tệ nạn này. Nhưng bất chấp sự ngăn cấm của pháp luật, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích thỏa mãn cơn nghiện của bản thân, nên đã đi vào con đường phạm tội. Hành vi của bị cáo đã tiếp tay làm gia tăng tệ nạn ma túy trên địa bàn thành phố B. Chính vì vậy phải đưa ra xét xử bị cáo kịp thời nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
- Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Ngày 19/4/2023, Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xử phạt Lường Văn O 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án nhưng chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo phạm vào tội nghiêm trọng quy định trong Bộ luật hình sự, do vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo. Nhưng khi lượng hình cần xem xét sau khi phạm tội và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Ngoài hình phạt chính, lẽ ra cần phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền để sung vào ngân sách nhà nước, nhưng xét bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng và phạm tội không với mục đích thu lời bất chính nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Số vật chứng của vụ án chưa xử lý, nay xử lý như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ.
- Liên quan trong vụ án này có người đàn ông bán ma túy cho O tại khu Công nghiệp Q, tỉnh Bắc Ninh, O không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này ở đâu, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Lường Văn O phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Lường Văn O 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/10/2024.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án, theo Quyết định tạm giam số 66/2025/HSST-QĐTG ngày 17/02/2025 của Hội đồng xét xử để đảm bảo thi hành án.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư được niêm phong theo quy định, bên trong có mẫu vật còn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 2393/KL-KTHS ngày 23/10/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công tỉnh K.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tùng |
Bản án số 75/2025/HS-ST ngày 17/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 75/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
