|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số: 75/2025/HSST Ngày: 14/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Huệ
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Ngô Mạnh Hải
2. Ông Dương Ngọc Sáng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Anh- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 14/02/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 75/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2025/QĐXXST- HS ngày 09 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Tuyển Đ, sinh năm 1992;
HKTT: Thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Con ông Nguyễn Tuyển V, sinh năm 1965 và con bà Đinh Thị H, sinh năm 1965; Có vợ là Nguyễn Thị T, sinh năm 1997 và 02 con (lớn sinh năm 2020, nhỏ sinh năm 2023); Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
- + Chị Nghiêm Thị Lan A, sinh năm 1976; (có mặt)
- + Bà Vũ Thị T1, sinh năm 1965; (có mặt)
- + Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1984; (có mặt)
- + Ông Tạ Quang H1, sinh năm 1965; (vắng mặt)
- + Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1964; (vắng mặt)
- + Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1985; (vắng mặt)
- + Chị Ngô Thị H2, sinh năm 1989; (vắng mặt)
- + Bà Ngô Thị L1, sinh năm 1971; (vắng mặt)
- Cùng địa chỉ: Khu phố D, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh.
- + Ông Nguyễn Tiến N, sinh năm 1980- trưởng xóm T, khu phố D, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; Địa chỉ: Khu phố D, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. (vắng mặt)
- + Chị Tạ Thị M, sinh năm 1979; Địa chỉ: Khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Hoàng Văn Q, sinh năm 1986; Địa chỉ: Thôn C, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
- + Ông Ngô Đức M1, sinh năm 1968; địa chỉ: Khu phố D, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. (vắng mặt)
- Người làm chứng:
Anh Nguyễn Văn H3, sinh năm 1998; Địa chỉ: thôn Đ, xã D, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Tuyển Đ là thợ hàn, làm thuê cho anh Hoàng Văn Q (anh Q mở xưởng cơ khí tại khu phố T, Đ, T, Bắc Ninh từ khoảng đầu năm 2015. Anh Q trả tiền lương cho Đ theo ngày công lao động, ngoài ra còn nuôi ăn ở tại xưởng. Ngày 29/6/2016, ông Ngô Đức M1 đã liên hệ với anh Q để thuê làm vách ki ốt tại chợ X. Anh Q đồng ý và cùng ông M1 thống nhất ngày 29/6/2016 để thực hiện công việc. Khoảng 7 giờ 30 phút sáng ngày 29/6/2016, anh Q cùng hai thợ học việc là Nguyễn Tuyển Đ và Nguyễn Văn H3 đến ki ốt của ông M1 để thi công. Tại đây, ông M1 đã chỉ dẫn công việc cần thực hiện (hàn khung, vách ki ốt) cho anh Q, Đ và H3. Sau đó, anh Q nhắc nhở Đ khi hàn phải sử dụng tấm chắn và chú ý đảm bảo an toàn phòng cháy, rồi rời đi để làm việc tại xưởng. Còn lại Đ và Hiện tiếp tục thi công theo yêu cầu của ông M1. Anh H3 cắt các thanh sắt theo yêu cầu của Đ để Đ trực tiếp hàn các thanh sắt thành khung kim loại trong ki ốt của ông M1. Trong quá trình hàn, các vẩy hàn cháy, nóng chảy bắn ra, nhưng vì chủ quan, Đ đã không sử dụng tấm chắn để ngăn các vẩy hàn này, dẫn đến không đảm bảo an toàn phòng cháy. Khoảng gần 11 giờ cùng ngày, khi đang hàn các thanh sắt dính vào vách kim loại của ki ốt của chị Nghiêm Thị Lan A, Đ nhận thấy có lỗ thủng trên vách và khe hở giữa vách và cột bê tông của ki ốt này. Tuy nhiên, Đ vẫn tiếp tục hàn mà không sử dụng tấm chắn để ngăn vẩy hàn, gây ra sự cố. Các vẩy hàn nóng chảy đã bắn qua khe hở và rơi vào quần áo trong ki ốt của chị Lan A và gây cháy.
Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, khi hàn xong khung kim loại, Đ phát hiện có khói bốc lên từ bên trong ki ốt của chị Lan A, tràn qua khe hở mái tôn ra ngoài nên Đ nhận ra đã xảy ra cháy. Đ lập tức hô hoán mọi người để chữa cháy. Tuy nhiên, ngọn lửa đã bùng phát mạnh, lan sang các ki ốt của chị Nguyễn Thị T2, bà Vũ Thị T1, ông Tạ Quang H1, bà Nguyễn Thị L, chị Nguyễn Thị C, chị Tạ Thị M, chị Ngô Thị H2 và nhà bà Ngô Thị L1.
Nhận được tin báo, lực lượng Cảnh sát phòng cháy chữa cháy đã nhanh chóng có mặt tại hiện trường và tham gia dập tắt đám cháy. Đến khoảng hơn 12 giờ cùng ngày, đám cháy đã được khống chế. Hậu quả của vụ cháy là một phần mái tôn, xà gồ của chợ bị hư hỏng do nhiệt hóa; các ki ốt bị cháy rụi toàn bộ tài sản bên trong; nhà bà Ngô Thị L1 bị nhiệt hóa phần mặt ngoài tường giáp với chợ xóm T, hai cửa sổ và cục N2 bị hư hỏng.
Sau khi tiếp nhận tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T (nay là thành phố T) đã tiến hành khám nghiệm hiện trường. Hiện trường nơi xảy ra vụ việc là chợ xóm T. Phía Bắc tiếp giáp với đường đi vào khu nhà dân, phía Đông tiếp giáp với khu nhà dân, phía Nam tiếp giáp với ao cá, phía Tây tiếp giáp với đường đi. Chợ được thiết kế gồm 3 dãy ki ốt nằm song song dọc theo hướng Đ – Tây, 1 dãy ki ốt ở hướng Đông dọc theo hướng B, giữa các dãy ki ốt thiết kế lối đi.
Dãy ki ốt dọc hướng Đ ở phía Bắc gồm 2 mặt quay ra hướng Bắc và hướng N1. Các ki ốt bị cháy được đánh số thứ tự từ (1) đến (7).
Dãy ki ốt dọc hướng Bắc Nam ở phía Đông của chợ có 02 ki ốt bị cháy được đánh số thứ tự (8) và (9).
Dãy ki ốt dọc hướng Đông Tây ở giữa chợ có 02 ki ốt bị cháy được đánh số thứ tự là (10) và (11).
Nhà của bà Ngô Thị L1 tiếp giáp với ki ốt phía Đông của chợ được đánh số thứ tự (12).
Tiến hành khám nghiệm ki ốt số (1) (ki ốt của ông Ngô Văn M2): Ki ốt số (1) có kích thước (3,15x3,02x3,2)m, nền được đổ bê tông trên nền có nhiều sản phẩm cháy đã bị nhiệt hóa than hóa dạng xốp màu đen. Diện sản phẩm cháy (3,3x2,6)m rải rác có các đoạn dây diện đã bị nhiệt hóa phần vỏ nhựa để lộ lõi kim loại, có 02 chiếc khoan điện cầm tay bị nhiệt hóa biến dạng. Đầu phía Tây cách mép cột của ki ốt này 1,2m và cách mép ngoài ki ốt về phía Bắc 0,6m phát hiện 01 máy hàn mặt ngoài sơn màu đỏ có chữ ASK. Từ máy hàn này về phía ki ốt số (1) có hệ thống dây dẫn điện đầu vào còn kết nối với 01 ổ điện, đầu ra có hai đoạn dây dẫn ở tình trạng đã bị nhiệt hóa. Trên nền ki ốt phát hiện 01 mỏ hàn đầu gắn 03 thanh kim loại, mỏ hàn này có hệ thống dây dẫn điện màu đen. Tại vị trí cách mép ngoài phía Nam của ki ốt 1,65m và cách cột phía ngoài bên phải (hướng từ trong ra) 1,7m có 01 hộp giấy màu vàng, bên trong có nhiều que hàn chưa sử dụng. Mặt tường bao phía Bắc được thiết kế gồm nhiều mảnh tôn kim loại được ghép nối với nhau, nửa phía bên bị nhiệt hóa nhẹ có màu nâu đỏ, mức độ nhiệt hóa mạnh hơn ở góc phía Đông Bắc. Ngay giáp với những miếng tôn kim loại là các khung kim loại sáng màu.
Mặt tường bao phía Đông của ki ốt gồm nhiều mảnh kim loại được ghép nối khép kín với nhau ngăn cách gian kế bên. Toàn bộ các mảnh kim loại của tường bao kế bên bị nhiệt hóa cong vênh có màu nâu đỏ, rải rác có màu dạng phấn trắng. Mức độ nhiệt hóa mạnh ở khu vực nửa phía dưới nhẹ hơn nửa phía trên. Ở mặt tường bao này có các thanh kim loại được hàn cố định tạo thành khung gồm 03 thanh ngang. Cách mặt nền 1,35m tiếp giáp với mép cột ngăn cách ki ốt số (1) và ki ốt số (2), tại vị trí thanh ngang kim loại số 2 từ dưới lên phát hiện mối hàn bị bật khỏi trạng thái ban đầu. Ngay sát vị trí mối hàn này có 01 mảnh kim loại kích thước (1,3x0,12)m đầu phía trên gần vị trí mối hàn ở tình trạng bị gập ra phía trước và có vết trượt kim loại chiều hướng từ trên xuống, dấu vết còn mới. Tại vách ngăn giữa ki ốt số (1) và ki ốt (2) tiếp giáp với cột trụ phía Nam giữa hai ki ốt này có khe hở, chỗ rộng nhất là 1,5cm, chỗ hẹp nhất là 0,5cm. Mặt dưới phần mái tôn kim loại bị nhiệt hóa ám khói nhẹ, mức độ nhiệt hóa mạnh hơn ở phía Nam và góc phía Đông Nam. Phía trước của gian hàng cách mép cửa 1m trên lối đi phát hiện 04 thanh kim loại hình hộp kích thước 1,5cm và một số thanh kim loại dạng hình hộp chữ nhật có kích thước khác nhau. Tiếp giáp với ki ốt số (1) về phía Tây có một gian hàng không có tường bao, bên trong có kê một số bàn gỗ bị nhiệt hóa nhẹ, ám khói màu đen, trên nền rải rác có mảnh vụn proximang bị nhiệt hóa.
Tiến hành khám nghiệm ki ốt số (2) (ki ốt của chị Nghiêm Thị Lan A): Gồm 02 khoang kích thước (2,75x3,1x3,2)m và (3,05x3,1x3,2)m. Bên ngoài mỗi khoang đều có cửa cuốn. Nền ki ốt có nhiều sản phẩm cháy dạng bông vải sợi màu đen. Tiếp giáp với tường bao phía Tây có 05 giá để hàng bằng kim loại ở tình trạng bị nhiệt hóa cong vênh biến dạng có màu nâu đỏ, xanh đen rải rác có màu phấn trắng. Trên các giá để hàng có nhiều sản phẩm cháy dạng vải sợi đã bị nhiệt hóa, than hóa. Mức độ nhiệt hóa mạnh nhất ở khu vực đầu phía Nam giá hàng thứ 02 cách nền 1,2m và giá hàng 03, 04 cách nền 1,7m, giảm dần về các phía còn lại. Trong ki ốt có nhiều khung giá kim loại và các móc treo quần áo đều ở tình trạng bị nhiệt hóa biến dạng. Mặt tường bao phía Bắc và phía Đ1 bị nhiệt hóa có màu dạng phấn trắng.
Tiến hành khám nghiệm ki ốt số (3) (ki ốt của chị Nguyễn Thị T2): Có kích thước (2,8x3,1x3,2)m, có cửa cuốn phía Đông. Ba mặt còn lại phía trong có 05 khung giá để hàng bằng kim loại, ở giữa có 01 kệ để hàng bằng kim loại đề ở tình trạng bị nhiệt hóa biến dạng hướng từ trên xuống dưới. Các vách ngăn bị nhiệt hóa biến dạng có màu phấn trắng. Phần mái và các xà gồ kim loại bị nhiệt hóa biến dạng hướng từ trên xuống dưới. Trên nền ki ốt có nhiều sản phẩm cháy dạng vải sợi đã bị nhiệt hóa cháy dở từ trên xuống dưới. Gạch lát nền bị nhiệt hóa vỡ vụn.
Tiến hành khám nghiệm ki ốt (4) (ki ốt của bà Vũ Thị T1): Kích thước (3x2,9x3,2)m, cửa hướng Bắc gồm 4 cánh kim loại mở ra ngoài bị nhiệt hóa ám khói màu đen. Trên đó có 01 ổ kim loại bị cong vênh bật ra khỏi vị trí ban đầu. Các vách ngăn phần mái bị nhiệt hóa cong vênh. Giáp vách ngăn phía Tây Nam có kê giá kim loại gồm 06 tầng, trên các tầng có nhiều sản phẩm bát đũa, cốc chén là đồ gốm sứ ở tình trạng bị nhiệt hóa biến dạng hoàn toàn. Trên nền có nhiều sản phẩm cháy chiều hướng trên xuống dưới.
Tiến hành khám nghiệm ki ốt số (5) (ki ốt của ông Tạ Quang H1): Kích thước (3,1x2,9x3,2)m, không có thiệt hại về tài sản. Các vách ngăn kim loại bị nhiệt hóa biến dạng.
Tiến hành khám nghiệm ki ốt số (6) (ki ốt của chị Ngô Thị H2): Kích thước (3,1x2,9x3,2)m, cửa cuốn hướng Bắc bị nhiệt hóa biến dạng. Các vách ngăn đều bị nhiệt hóa cong vênh và có màu dạng phấn trắng. Trên nền ki ốt có nhiều sản phẩm cháy dạng nhôm kính, chai lọ, giấy bị nhiệt hóa cháy dở và cháy rụi hoàn toàn.
Tiến hành khám nghiệm ki ốt số (7) (ki ốt của bà Nguyễn Thị L): Kích thước (3,1x2,9x3,2)m, cửa cuốn hướng Bắc bị nhiệt hóa biến dạng có màu đỏ nâu và màu phấn trắng. Các vách ngăn, phần mái và các giá để hàng bị nhiệt hóa biến dạng mức độ nhiệt hóa nhẹ hơn so với ki ốt số (2). Trên nền có nhiều sản phẩm dạng gạo, cân đồng hồ, bát đũa đều ở tình trạng bị nhiệt hóa cháy dở.
Tiến hành khám nghiệm ki ốt số (8) (ki ốt của chị Nguyễn Thị T2): Gồm 3 khoang đối diện ki ốt số (3), (4) có kích thước (9x2,9x3,2)m. Các cột, giá đỡ, xà gồ bằng kim loại đều ở tình trạng bị nhiệt hóa cong vênh, biến dạng. Phần mái và xà gồ bị cong võng từ trên xuống dưới. Mặt chính ki ốt hướng Tây. Tường bao phía Bắc và phía Đ1 có kê giá đỡ để hàng đều ở tình trạng bị nhiệt hóa biến dạng. Tường phía Nam được xây dựng bằng gạch và chát vôi vữa (đã bị nhiệt hóa bong tróc lớp vôi vữa). Nền ki ốt có nhiều sản phẩm bị nhiệt hóa, cháy dở, cháy rụi hoàn toàn chiều hướng từ trên xuống dưới và từ ngoài vào trong.
Tiến hành khám nghiệm ki ốt số (9) (ki ốt của chị Tạ Thị M): Toàn bộ mặt tường phía Đông và phía Nam (được xây dựng bằng gạch) và phần mái tôn kim loại bị nhiệt hóa ám khói màu đen. Tường phía Bắc được xây bằng gạch, lớp vôi vữa bị nhiệt hóa rạn nứt. Trên nền của ki ốt có nhiều sản phẩm dạng nhôm kính bị nhiệt hóa, cháy dở và hư hỏng hoàn toàn. Bên ngoài là cửa xếp kim loại dạng đẩy sang hai bên hướng về phía Tây và bị nhiệt hóa nhẹ, ám khói một phần. Giáp với cửa phía ngoài ki ốt có 01 chiếc xe đạp đã cũ bị cháy dở phần yên và lốp.
Tiến hành khám nghiệm ki ốt số (10) (ki ốt của chị Tạ Thị M): Toàn bộ phần mái phía trên một số dây dẫn điện bị nhiệt hóa nhẹ và ám khói muội màu đen. Góc phía Tây Nam giáp với phần mái phát hiện 01 cục nóng điều hòa bị hư hỏng cháy dở. Cánh cửa xếp phía Đông bên trái (hướng từ trong ra) bị nhiệt hóa hư hỏng nhẹ. Cửa xếp phía Bắc bị nhiệt hóa hư hỏng nhẹ. Nền ki ốt có một số sản phẩm đồ nhựa như giầy, dép bị nhiệt hóa, biến dạng.
Tiến hành khám nghiệm ki ốt số (11) (ki ốt của chị Nguyễn Thị C): Gồm 02 khoang đối diện ki ốt số (2), cửa cuốn hướng phía Bắc. Toàn bộ phần mái và giá đỡ cửa cuốn bị nhiệt hóa nhẹ hư hỏng một phần. Góc phía Đông Nam phát hiện 01 cục L2 bị nhiệt hóa hư hỏng.
Tiến hành khám nghiệm nhà bà Ngô Thị L1: Nhà được xây dựng kiên cố. ½ phía sau bên ngoài tường phía Tây bị nhiệt hóa bong tróc một phần lớp vôi vữa và ám khói màu đen. Trên đó có 02 ô cửa sổ dạng nhôm kính kích thước (1x1,5)m có 02 cánh mở ra ngoài bị nhiệt hóa hư hỏng. Cục nóng điều hòa nhãn hiệu Samsung gắn tường phía Nam bị nhiệt hóa hư hỏng. Cục lạnh và ống dẫn từ cục nóng sang cục lạnh bị nhiệt hóa ám khói nhẹ.
Khi khám nghiệm hiện trường, lực lượng chức năng đã thu giữ: Các đoạn dây điện đã bị nhiệt hóa phần vỏ nhựa để lộ lõi kim loại ở ki ốt số (1) (ký hiệu M7) và ki ốt số (2) (ký hiệu M2); 02 thanh kim loại có mối hàn được thu ở ki ốt số (1) (ký hiệu M1); Các que hàn thu ở ki ốt số (1) (ký hiệu M5); Sản phẩm cháy thu ở ki ốt số (1) (ký hiệu M3) và ki ốt số (2) (ký hiệu M4); Các mảnh kim loại được thu giữ tại đầu phía Nam của giá để hàng tiếp giáp với vách ngăn giữa ki ốt số (1) và ki ốt số (2) (ký hiệu M6);
Ngày 16/7/2016, Cơ quan điều tra T3 Bộ C1 giám định cháy, nổ đối với các mẫu phẩm thu được khi khám nghiệm hiện trường. Tại Kết luận giám định số 3203/C54-P2 ngày 16/8/2016 của V1 Bộ C1 kết luận:
“ - Dấu vết trên các mẫu M1, M5, M6 đều do quá trình hàn cắt kim loại bằng hồ quang điện tạo ra.
- Trong các mẫu than tro (mẫu M3, mẫu M4) đều không tìm thấy dấy vết của xăng, dầu và các dung môi lạ dễ cháy khác.
- Trên các đoạn dây điện bị cháy hết lớp vỏ cách điện (mẫu M2) không phát hiện thấy dấu vết chập điện.
- Dấu vết trên mẫu M7 là do chập điện tạo ra (dấu vết chập điện xảy ra là hậu quả của đám cháy)”.
Ngày 29/6/2016, Cơ quan điều tra trưng cầu Phòng K Công an tỉnh B giám định nguyên nhân gây ra vụ cháy tại chợ X, khu phố D vào ngày 29/6/2016. Tại Kết luận giám định số 61/PC54 ngày 27/9/2016 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
“- Vùng cháy đầu tiên là khu vực giáp tường bao phía Đông ki ốt số 1 tương ứng vị trí phát hiện thanh ngang kim loại có mối hàn bị bật ra khỏi trạng thái ban đầu.
- Nguyên nhân cháy: Trên các sản phẩm cháy thu tại ki ốt số 2 (giáp ki ốt số 1) tìm thấy các vẩy hàn. Các vẩy hàn này được tạo ra bằng hồ quang điện, có nhiệt độ lớn nên khi gặp chất dễ cháy có thể gây cháy”.
Tại Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 74/KL-HĐ ĐG ngày 06/9/2017 của Hội đồng định giá tài sản thị xã T xác định: Tổng trị giá phần tài sản bị hư hỏng do vụ cháy là 119.943.000đồng (trong đó: thiệt hại tài sản của các hộ dân là 117.443.000đồng; thiệt hại 02 máy khoan, 01 máy mài và 01 máy hàn do bị cáo quản lý là 2.500.000đồng).
Căn cứ Kết luận định giá tài sản và việc xác định thiệt hại của các hộ dân, Cơ quan điều tra xác định được:
- - Thiệt hại của chợ xóm T (mái tôn, xà gồ): 36.249.000đ;
- - Thiệt hại của chị Nghiêm Thị Lan A: 13.830.000đ;
- - Thiệt hại của chị Nguyễn Thị T2: 21.758.400đ;
- - Thiệt hại của bà Vũ Thị T1: 3.692.000đ;
- - Thiệt hại của ông Tạ Quang H1: 558.000đ;
- - Thiệt hại của chị Ngô Thị H2: 4.390.400đ;
- - Thiệt hại của bà Nguyễn Thị L: 7.268.400đ;
- - Thiệt hại của chị Tạ Thị M: 9.282.000đ;
- - Thiệt hại của chị Nguyễn Thị C: 12.664.800đ;
- - Thiệt hại của bà Ngô Thị L1: 7.750.000đ.
Ngoài ra, các hộ dân còn kê khai một số tài sản bị hủy hoại trong vụ cháy gồm quần áo, giày dép, chai lọ ... nhưng không cung cấp được giấy tờ chứng minh chủng loại, số lượng, nguồn gốc nên Hội đồng định giá không có cơ sở định giá.
Về thu giữ vật chứng: Ngày 29/6/2016, Nguyễn Tuyển Đ đã giao nộp 01 máy hàn mặt ngoài sơn màu đỏ có chữ ASK, 01 mỏ hàn đầu gắn 03 thanh kim loại và 02 khoan điện cầm tay (tất cả đều đã bị hư hỏng).
Với nội dung trên, bản cáo trạng số 05/CT- VKSTS ngày 02/01/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn đã quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn để xét xử bị cáo Nguyễn Tuyển Đ về tội “Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy” theo quy định tại khoản 1 Điều 240 Bộ luật hình sự năm 1999.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo. Bị hại là bà Vũ Thị T1, chị Nghiêm Thị Lan A và chị Nguyễn Thị T2 yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại tài sản: bà T1 yêu cầu bồi thường 3.000.000 đồng, chị Lan A yêu cầu bồi thường 20.000.000đồng; chị T2 đã nhận bồi thường của bị cáo với số tiền 5.000.000đồng và yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại tài sản còn lại với số tiền là 16.758.400đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi đánh giá tính chất của vụ án, phân tích, đánh giá các chứng cứ, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuyển Đ phạm tội “Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy”.
Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 240 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH13 ngày 20/6/2017 của Quốc hội: Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuyển Đ từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt thi hành án. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; các Điều 584, 585, 586 và Điều 589 Bộ luật dân sự: Công nhận sự thoả thuận giữa bị cáo và bị hại về bồi thường thiệt hại tài sản: Bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho chị Nghiêm Thị Lan A số tiền 20.000.000 đồng, bồi thường cho bà Vũ Thị T1 số tiền là 3.000.000 đồng và bồi thường cho chị Nguyễn Thị T2 số tiền 21.758.400 đồng. Xác nhận bị cáo đã bồi thường cho chị Nguyễn Thị T2 số tiền 5.000.000 đồng nên bị cáo tiếp tục có trách nhiệm bồi thường cho chị Nguyễn Thị T2 số tiền 16.758.400 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với thời gian, địa điểm, biên bản khám nghiệm hiện trường, Kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đủ căn cứ khẳng định: Do có nhu cầu sửa ki ốt để kinh doanh nên ông Ngô Văn M2 thuê anh Hoàng Văn Q (là chủ xưởng cơ khí) đến sửa ki ốt của ông M2 tại chợ xóm T, khu phố D, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. Khoảng 7 giờ 30 phút ngày 29/6/2016, anh Q cùng Nguyễn Tuyển Đ (thợ hàn) và Nguyễn Văn H3 (thợ phụ) đến sửa ki ốt cho ông M2. Sau khi trao đổi công việc cần làm với ông M2 thì anh Q dặn Đ khi thi công (hàn sắt) phải có tấm chắn ngăn vẩy hàn và đảm bảo an toàn phòng cháy rồi đi về. Đ ở lại và trực tiếp tiến hành hàn các thanh sắt tại ki ốt của ông M2. Do Đ khi sử dụng máy hàn điện để hàn khung kim loại đã không có biện pháp đảm bảo đảm an toàn, không trang bị tấm chắn nên các vảy hàn nóng chảy phát sinh trong quá trình hàn đã bắn sang ki ốt bán quần áo của chị Nghiêm Thị Lan A làm cháy quần áo. Hậu quả: Lửa cháy lan từ ki ốt của chị Lan A đến một số ki ốt khác trong chợ và nhà dân gây thiệt hại tài sản với tổng giá trị thiệt hại là 117.443.000đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản xác định tổng giá trị phần tài sản bị hư hỏng do vụ cháy là 119.943.000đồng, tuy nhiên trong đó có thiệt hại về 02 máy khoan, 01 máy mài và 01 máy hàn trị giá là 2.500.000đồng là tài sản thuộc quyền quản lý của bị cáo. Vì vậy, bị cáo chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tổng giá trị thiệt hại tài sản của các hộ dân là 117.443.000đồng.
Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định mục 2.2.12 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia số 03:2011/BLĐTBXH của Bộ L3, xã hội về an toàn lao động đối với máy hàn điện và công việc hàn điện; điểm c, d khoản 3b Điều 5 Luật phòng cháy chữa cháy năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2013), hậu quả gây thiệt hại tài sản với tổng giá trị là 117.443.000đồng, đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy” theo quy định tại khoản 1 Điều 240 Bộ luật hình sự năm 1999. Hành vi phạm tội của bị cáo xảy ra vào ngày 29/6/2016 là thời điểm Bộ luật hình sự năm 1999 có hiệu lực pháp luật cũng như căn cứ vào Nghị quyết số 41/2017/QH13 ngày 20/6/2017 của Quốc hội thì Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn truy tố bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy” theo quy định tại khoản 1 Điều 240 Bộ luật hình sự năm 1999 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến việc buôn bán hàng hoá, tài sản của nhân dân. Công tác phòng cháy, chữa cháy là một lĩnh vực toàn Đảng toàn dân hết sức quan tâm, chú trọng. Các cơ quan chức năng đang ra sức kêu gọi mọi công dân phải tuân thủ nghiêm ngặt về phòng cháy, chữa cháy, nhất là những nơi công cộng tập trung đông người. Thế nhưng chỉ vì sự bất cẩn, thiếu suy nghĩ mà bị cáo đã vô ý gây cháy tại chợ X, khu phố D, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. Hành vi đó làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, gây hoang mang lo lắng cho quần chúng nhân dân. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
[3] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; bị cáo đã bồi thường một phần thiệt hại tài sản cho chị Nguyễn Thị T2; một số bị hại tại phiên toà xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đây là những tình tiết Hội đồng xét xử cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
[4] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định và không có tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Anh Hoàng Văn Q, Ban Quản lý chợ xóm T cùng ông Tạ Quang H1, chị Ngô Thị H2, bà Nguyễn Thị L, bà Tạ Thị M, chị Nguyễn Thị C và bà Ngô Thị L1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Tại phiên toà, bị cáo và các bị hại là bà Vũ Thị T1, chị Nghiêm Thị Lan A, chị Nguyễn Thị T2 tự nguyện thoả thuận về bồi thường thiệt hại tài sản: bị cáo bồi thường cho chị Nghiêm Thị Lan A số tiền 20.000.000 đồng, bồi thường cho bà Vũ Thị T1 số tiền là 3.000.000 đồng. Riêng đối với chị Nguyễn Thị T2 đã nhận bồi thường 5.000.000đồng của bị cáo nên bị cáo và chị Nguyễn Thị T2 thoả thuận bị cáo có trách nhiệm tiếp tục bồi thường thiệt hại tài sản với số tiền là 16.758.400đồng cho chị Nguyễn Thị T2. Sự tự nguyện thoả thuận về bồi thường thiệt hại tài sản giữa bị cáo và các bị hại là phù hợp quy định của pháp luật nên HĐXX cần công nhận thoả thuận này.
[6] Về xử lý vật chứng: 01 máy hàn mặt ngoài sơn màu đỏ có chữ ASK, 01 mỏ hàn đầu gắn 03 thanh kim loại và 02 khoan điện cầm tay đều đã hư hỏng và bị cáo không yêu cầu gì nên cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Liên quan trong vụ án có:
Anh Hoàng Văn Q là chủ sử dụng lao động, đã giao toàn bộ thiết bị sử dụng khi hàn cho bị cáo, chỉ đạo bị cáo phải đảm bảo an toàn khi làm việc. Tuy nhiên, bị cáo không thực hiện biện pháp phòng cháy và gây cháy tại chợ X. Do đó, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý mà nhắc nhở đối với anh Q là phù hợp.
Anh Nguyễn Văn H3 là thợ phụ, giúp việc Đ để cắt các thanh sắt. Ông Ngô Văn M2 là chủ ki ốt, thuê thợ đến để hàn khung và vách ki ốt, ông chỉ nói việc cần làm còn hàn như thế nào thì thợ chịu trách nhiệm. Anh H3 và ông M2 không liên quan đến việc Đ khi hàn không bảo đảm an toàn nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý anh H3 và ông M2 là đúng quy định của pháp luật.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST và DSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Nguyễn Tuyển Đ phạm tội “Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 240 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 41/2017/QH13 ngày 20/6/2017 của Quốc hội: Xử phạt Nguyễn Tuyển Đ 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; các Điều 584, 585, 586 và Điều 589 Bộ luật dân sự:
Công nhận sự thoả thuận giữa bị cáo và bị hại về bồi thường thiệt hại tài sản: Bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho chị Nghiêm Thị Lan A số tiền 20.000.000 đồng, bồi thường cho bà Vũ Thị T1 số tiền là 3.000.000 đồng và bồi thường cho chị Nguyễn Thị T2 số tiền 21.758.400 đồng. Xác nhận bị cáo đã bồi thường cho chị Nguyễn Thị T2 số tiền 5.000.000 đồng nên bị cáo tiếp tục có trách nhiệm bồi thường cho chị Nguyễn Thị T2 số tiền 16.758.400 đồng.
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu lãi suất đối với số tiền chưa thi hành án theo quy định tại điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 thùng giấy niêm phong, bên trong có: 01 máy hàn mặt ngoài sơn màu đỏ có chữ ASK, 01 mỏ hàn đầu gắn 03 thanh kim loại và 02 khoan điện cầm tay (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/01/2025).
- Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo Nguyễn Tuyển Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.988.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TÒA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Minh Huệ |
Bản án số 75/2025/HSST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH về vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy
- Số bản án: 75/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BLHS 1999
