Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG HỒ

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2024/HS-ST

Ngày: 06- 12- 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Vĩnh.

  • Hội thẩm nhân dân:

    1. Bà Nguyễn Thị Út.

    2. Bà Nguyễn Thị Hương.

  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Trúc Phương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ngọc Huyền- Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 73/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc S, sinh ngày 11 tháng 8 năm 1986, tại tỉnh Tiền Giang.

Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1959 và bà Đoàn Thị N, sinh năm 1958; vợ tên Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1986 (đã ly hôn); con 02 người, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2018; anh chị em ruột: có 04 người, lớn nhất sinh năm 1980, nhỏ nhất sinh 1988; tiền sự: chưa; tiền án: chưa.

Bị tạm giữ từ ngày 08/9/2024; tạm giam từ ngày 14/9/2024. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Đoàn Thị N, sinh năm 1958. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang- có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần sử dụng ma túy, nên vào khoảng 11 giờ ngày 08/9/2024, bị cáo Nguyễn Ngọc S điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 63B3- 528.37 đi từ nhà thuộc ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang đến ngã ba Đ để mua ma túy. Tại đây, bị cáo gặp một thanh niên không rõ lai lịch hỏi mua 2.000.000 đồng ma túy. Thanh niên đó đưa cho bị cáo 12 bịch nylon bóp miệng viền màu xanh bên trong chứa ma túy được cất trong hộp giấy màu đỏ và 02 ống thủy tinh là bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Bị cáo lấy 02 bịch nylon ma túy để vào ví da cầm tay màu đen để khi nào cần thì sử dụng. Bị cáo bỏ ví và hộp giấy màu đỏ chứa 10 bịch ma túy còn lại vào túi đeo màu đen. Bị cáo đeo túi màu đen chứa ma túy, điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 63B3- 528.37 đi đến thành phố V, tỉnh Vĩnh Long để gặp bạn. Bị cáo dừng xe và vào uống nước tại quán G thuộc ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, thì bị Công an huyện L kiểm tra, bắt và thu giữ trên người bị cáo:

  • + 10 bịch nylon bóp miệng viền màu xanh chứa tinh thể màu trắng (đánh số 01).

  • + 02 bịch nylon bóp miệng viền màu xanh chứa tinh thể màu trắng (đánh số 02).

  • + 02 ống thủy tinh (dụng cụ dùng để sử dụng ma túy).

  • + 01 hộp giấy màu đỏ.

  • + 01 ví da cầm tay màu đen.

  • + 01 túi đeo màu đen.

  • + Số tiền 500.000 đồng.

  • + 01 điện thoại di động hiệu Redmi gắn sim số 0899584218.

  • + 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda màu xanh bạc đen biển kiểm soát 63B3- 528.37.

Theo Kết luận giám định số 600/KL-KTHS ngày 11/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh V, kết luận:

  • - Mẫu tinh thể màu trắng bên trong 10 bịch nylon trong phong bì niêm phong (đánh số 01) gởi giám định là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 3,9568 gam.

  • - Mẫu tinh thể màu trắng bên trong 02 bịch nylon được niêm phong trong phong bì (đánh số 02) gởi giám định là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,3689 gam.

Ngày 12/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can đối với bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (gọi tắt là Bộ luật hình sự).

Cáo trạng số 70/CT-VKSLH ngày 04/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ truy tố Nguyễn Ngọc S về tội “Tàng trữ trái phép chấp ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung Cáo trạng số 70/CT-VKSLH ngày 04/11/2024, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc S từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy Methamphetamine còn lại sau giám định, 02 ống thuỷ tinh, 01 hộp giấy màu đỏ, 01 ví da màu đen, 01 túi đeo màu đen. Hoàn trả bị cáo số tiền 500.000 đồng và điện thoại di động hiệu hiệu Redmi gắn sim số 0899584248, nhưng tạm giữ 200.000 đồng để đảm bảo thi thành án. Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 buộc bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận hành vi cất ma túy trong người đúng như Cáo trạng số 70/CT-VKSLH ngày 04/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân đã truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Ngọc S thừa nhận hành vi cất giữ ma túy trong túi đang đeo trên người đúng như Cáo trạng số 70/CT.VKSLH ngày 04/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ đã truy tố bị cáo. Hành vi cất giữ ma túy trên người của bị cáo bị phát hiện tại ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long. Nên Toà án nhân dân huyện Long Hồ thụ lý giải quyết sơ thẩm là đúng theo quy định tại Điều 269 của Bộ luật tố tụng hình sự

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định khoa học hình sự. Bị cáo xác định không khiếu nại đối với quá trình tiến hành tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của Điều tra viên, của Kiểm sát viên và lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung hay dùng nhục hình. Do đó, hành vi và chứng cứ, tài liệu của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Tại phiên toà, bị cáo khai nhận:

Khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 08/9/2024, khi bị cáo uống nước tại quán G thuộc ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long thì bị Công an huyện L kiểm tra, bắt và thu giữ trong túi đeo màu đen, bị cáo đang đeo trên người có 12 bịch nylon bóp miệng viền màu xanh, bên trong chứa ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng là 4,3257 gam.

Bị cáo là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và đủ năng lực hành sự. Bị cáo cố ý thực hiện hành vi cất giấu ma túy trên người là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm khách thể của Bộ luật hình sự bảo vệ: Đó là chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy. Do đó, đã đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chính sách pháp luật của Nhà nước về quản lý các chất ma túy; gây mất an ninh trật tự tại địa phương; ảnh hưởng trực tiếp đến phong trào T1 dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư. Chúng ta biết, ma túy là chất hướng thần, người sử dụng ma túy sẽ bị gây ảo giác và dễ nghiện, ảnh hưởng đến sức khỏe, ảnh hưởng đến tinh thần, thậm chí mất khả năng nhận thức. Ma túy là một tệ nạn xã hội thường dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng khác như trộm cắp, cướp giật, gây thương tích. Vì vậy, để đấu tranh ngăn chặn tệ nạn ma túy nói chung, người tàng trữ ma túy nói riêng, nhằm giữ gìn trật tự công cộng, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, góp phần xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư, nên cần xử lý bị cáo nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[2.2]. Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo là người tham gia và hoàn thành nghĩa vụ quân sự vào tháng 02/2007. Nên bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[2.3]. Về hình phạt bổ sung:

Xét hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo, nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[3]. Về vật chứng:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy chất Methamphetamine còn lại sau giám định, 01 hộp giấy màu đỏ, 02 ống thủy tinh là đúng pháp luật.

Một ví da cầm tay màu đen, 01 túi đeo màu đen, một điện thoại di động hiệu Redmi và 500.000 đồng là tài sản của bị cáo, không phải là công cụ công cụ thực hiện tội phạm, nên hòan trả cho bị cáo là đúng pháp luật.

Xe mô tô nhãn hiệu Honda màu xanh bạc đen biển kiểm soát 63B3- 528.37 là tài sản hợp pháp của bà Đoàn Thị N. Xe không phải là công cụ, phương tiện thực hiện tội phạm. Nên Cơ quan điều tra đã hoàn trả xe cho bà N là đúng quy định tại khoản 3 của Bộ luật hình sự và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Bà N không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại xe, nên không xét.

[4]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm là đúng quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14.

[5]. Đối với quan điểm của Kiểm sát viên đã xem xét đến các chứng cứ được đưa ra thẩm tra tại phiên tòa, đã đánh giá đúng hành vi, tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo. Về đề nghị mức hình phạt, Kiểm sát viên đã xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo. Do đó, chấp nhận quan điểm của Kiểm sát viên.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017:

      Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc S 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

      Thời hạn chấp hành hình phạt được tính kể từ ngày bị cáo Nguyễn Ngọc S bị bắt tạm giữ là ngày 08/9/2024.

    2. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Nguyễn Ngọc S.

  2. Về vật chứng:

    Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 và điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, tuyên tịch thu tiêu hủy:

    • + 01 (một) phong bì niêm phong số 600/01 ngày 11/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh V bên trong chứa vật chứng là ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao gói.

    • + 01 (một) phong bì niêm phong số 600/02 ngày 11/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh V bên trong chứa vật chứng là ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao gói.

    • + 02 ống thủy tinh (dụng cụ để sử dụng ma túy).

    • + 01 hộp giấy màu đỏ.

    Hoàn trả cho bị cáo Nguyễn Ngọc S:

    • + 01 ví da màu đen.

    • + 01 túi đeo màu đen.

    • + Tiền Việt Nam 500.000 đồng.

    • + 01 điện thoại di động hiệu Redmi gắn sim số 0899584218, số IMEI 1; 867325042341266, số IMEI 2: 867325042381262, số seri sim: 8401230612159989.

    Vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Hồ quản lý theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 05/11/2024.

    Giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Hồ tạm giữ lại số tiền 200.000 đồng để đảm bảo việc thi hành án.

  3. Về án phí hình sự sơ thẩm:

    Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án:

    Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc S nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm. Tuyên án có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Vĩnh Long;

  • - VKSND tỉnh Vĩnh Long;

  • - Công an tỉnh V;

  • - Sở tư pháp tỉnh Vĩnh Long;

  • - VKSND huyện Long Hồ;

  • - Công an huyện L;

  • - Chi cục THADS huyện L;

  • - UBND xã T, CT, TG;

  • - Những người tham gia tố tụng;

  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Huỳnh Văn Vĩnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2024/HS-ST ngày 06/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 75/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử phạt bị cáo 3 năm 6 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger