TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số 75/2024/HS-ST Ngày 27-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng Văn Đoan;
Ông Vũ Đức Bình.
Thư ký phiên toà: Ông Nghiêm Quang Trường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 70/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2024/HSST-QĐ ngày 14 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Thị N, sinh ngày 25 tháng 7 năm 1994 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn H, xã V, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1962 và bà Phạm Thị T, sinh năm 1962; chồng là Hoàng Văn Q, sinh năm 1988 và 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2016; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17 tháng 6 năm 2024 đến nay; có mặt.
Bị hại: Chị Phạm Thị T1, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn X, xã N, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt.
Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn K có mặt; bà Phạm Thị T, chị Nguyễn Thị Mai C, anh Hoàng Văn C1 đều vắng mặt.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mẫu thuẫn trong việc tranh chấp đất đai giữa gia đình ông Nguyễn Văn K, bà Phạm Thị T (là bố mẹ đẻ của Nguyễn Thị N) với gia đình chị Phạm Thị T1, nên khoảng 19 giờ ngày 19-01-2024 khi N đến nhà bố mẹ đẻ chơi, giữa N và chị T1 đã xảy ra mâu thuẫn, cãi chửi nhau. Do bực tức N đã cầm theo 01 dao bằng kim loại (dạng dao bài) dài 15,3cm, bản rộng 03cm sang nhà chị T1. Tại khu vực sân nhà chị T1, cả 02 tiếp tục lời qua tiếng lại, cãi vã nhau, chị T1 đuổi N về nhưng N không về, cả hai lao vào giằng co, xô đẩy túm tóc đánh nhau; N cầm dao bằng tay phải vung về phía chị T1 khoảng 4-5 lần trúng vào mặt và cánh tay trái làm chị T1 bị 03 vết thương ở mi trên mắt trái, mi dưới mắt trái, dưới mi dưới mắt trái kéo dài đến cánh mũi trái và 03 vết thương ở cẳng tay trái. Lúc này ông K, bà T và anh Hoàng Văn C1 (hàng xóm) vào can ngăn, còn Nguyễn Thị Mai C (con gái của chị T1) dùng tay đánh vào đầu N. C thấy N cầm dao nên hô lên, anh C1 giữ tay N, giằng dao đưa cho C để vứt sang vườn rau nhà ông Phạm Văn T2 ở bên cạnh. Chị T1 bị thương được gia đình đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện H từ ngày 19-01-2024 đến 30-01-2024 xuất viện.
Cùng ngày, Công an xã N tiếp nhận vụ việc, thu giữ 01 con dao bằng kim loại tối màu (dạng dao bài) dài 15,3cm có một lưỡi sắc, mũi vuông, bản rộng nhất 03cm; tiếp nhận 01 đoạn video do bà Bùi Thị D quay lại nội dung vụ việc xô xát giữa N và chị T1. Ngày 18-4-2024, Công an xã N đã báo cáo vụ việc và bàn giao đồ vật, tài liệu đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T xác minh, giải quyết theo quy định.
Tại Bản kết luận giám định số 286/2024/KLTTCT-TTPYHP ngày 15-4-2024 của Trung tâm P kết luận: “Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Phạm Thị T1 tại thời điểm giám định là 11,43%, làm tròn số 11%. Trong đó: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo vết thương vùng mi trên mắt trái đến đuôi cung mày trái gây nên là 03%; tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo vết thương mi dưới mắt trái gây nên là 03%; tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo vết thương vùng dưới mi mắt trái đến cánh mũi trái gây nên là 03%; tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo vết thương mặt ngoài 1/3 dưới cánh tay trái gây nên là 01%; tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do 02 sẹo vết thương mặt ngoài 1/3 trên cẳng tay trái gây nên là 01% và 01%. Các thương tích trên có đặc điểm do vật sắc tác động trực tiếp gây nên”.
Kết luận giám định số 1861/KL-KTHS ngày 25-6-2024 của Phòng K1 Công an thành phố H, kết luận: “01 tập tin video có phần mở rộng MP4 dung lượng 40,7MB được lưu trong USB nhãn hiệu Kingston đã qua sử dụng không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh. Trích xuất 11 hình ảnh nghi liên quan đến vụ việc được lập thành bản ảnh kèm theo”.
2
Vật chứng của vụ án: Đối với 01 đoạn video thu giữ được lưu trong hồ sơ vụ án; 01 con dao dạng dao bài bị cong, dài 15,3cm có một lưỡi sắc, mũi vuông, bản rộng nhất 03cm đã chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện T.
Bản cáo trạng số 74/CT-VKS ngày 11-10-2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị N về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị hại Phạm Thị T1 trình bày: Trước đó giữa vợ chồng chị và vợ chồng ông K, bà T (bố mẹ bị cáo) có xẩy ra mâu thuẫn về việc tranh chấp đất đai nên khoảng 19 giờ ngày 19-01-2024, chị và bị cáo xẩy ra mâu thuẫn, cãi chửi nhau; bị cáo sang sân nhà chị lời qua tiếng lại, hai bên đều lao vào dùng tay xô đẩy, túm tóc, đánh nhau được một lúc thì chị thấy mặt và tay đau, rát và nghe con gái hô lên “nó có dao đấy”; sau đó được hàng xóm là anh C1 vào can ngăn, mọi người đưa chị đi cấp cứu. Các thương tích của chị do quá trình xô xát và do một mình bị cáo dùng dao gây ra, ngoài ra không có ai khác tham gia gây thương tích cho chị. Bị cáo đã bồi thường 85.700.000 đồng, chị không yêu cầu gì thêm. Sự việc xẩy ra lỗi chính là ở bị cáo nhưng chị cũng có một phần lỗi vì đã lời qua tiếng lại, chửi bới, túm tóc và dùng tay đánh vào đầu bị cáo. ...Mặc dù tại cơ quan điều tra chị đã có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nhưng đến nay chị đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử bị cáo mức án nghiêm theo quy định pháp luật.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và trình bày: Khoảng 18 giờ ngày 19-01-2024, bị cáo đến nhà bố mẹ đẻ (bà Phạm Thị T, ông Nguyễn Văn K) chơi, do trước đó bố mẹ bị cáo và vợ chồng bị hại đã mâu thuẫn về tranh chấp đất đai nên bị cáo lời qua tiếng lại với bị hại, sau đó cùng với bố đẻ sang nhà bị hại để nói chuyện, bị cáo đã mang theo đèn pin và 01 con dao kim loại màu đen, dài khoảng 15cm nhặt ở cạnh nhà với mục đích nếu bị đánh sẽ tự vệ; đến cổng nhà bị hại thì bị cáo và bị hại đã cãi chửi nhau, sau đó cả hai lao vào giằng co, xô đẩy túm tóc, đánh nhau tại sân nhà bị hại; bị cáo đã cầm dao bằng tay phải vung, khua khoắng về phía bị hại khoảng 4, 5 lần trúng vào mặt và cánh tay trái chị T1; bị hại và con gái là cháu C cũng đã túm tóc, đánh vào đầu, mặt bị cáo. Các thương tích của bị hại là do một mình bị cáo gây nên; không có ai hô hào, kích động, tham gia cùng. Bị cáo thừa nhận việc bị điều tra, truy tố, xét xử là không oan sai, không bị ép buộc khai báo không đúng sự thật. Bị cáo rất hối hận, trân thành xin lỗi chị T1 về việc đã gây thương tích cho chị. Việc bị cáo gây thương tích cho chị T1 chỉ là nhất thời, bột phát; bị cáo đã bồi thường 85.700.000 đồng theo yêu cầu của bị hại và đến nay thương tích của chị T1 cũng đã bình phục; hiện nay bị cáo đang mang thai tháng thứ 6 nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng hình phạt cải tạo ngoài xã hội để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, làm công dân tốt.
Kiểm sát viên trình bày luận tội, khẳng định: Cáo trạng truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội. Căn cứ tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều
3
65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị N mức án từ 24 tháng đến 30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng đến 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội Cố ý gây thương tích.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường, không có yêu cầu nào khác nên đề nghị không xem xét, giải quyết về trách nhiệm dân sự.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 USB do bà Bùi Thị D giao nộp là tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Đối với 01 con dao dạng dao bài bị cong, dài 15,3cm có một lưỡi sắc, mũi vuông, bản rộng nhất 03cm là công cụ phạm tội nên đề nghị tịch thu, tiêu hủy theo điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, Kiểm sát viên thu thập đã đầy đủ và theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định.
[2] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và Điều tra viên Công an huyện T, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh và hình phạt:
[3] Lời khai của bị cáo Nguyễn Thị N tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng; biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận: Ngày 19-01-2024, tại khu vực sân nhà chị Phạm Thị T1 ở thôn X, xã N, huyện T, thành phố Hải Phòng do mâu thuẫn trong việc tranh chấp đất đai từ trước giữa bố mẹ đẻ bị cáo và gia đình bị hại nên bị cáo và bị hại đều lời qua tiếng lại, chửi nhau, giằng co, xô đẩy, túm tóc, đánh nhau; bị cáo đã dùng hung khí nguy hiểm (dao dạng dao bài dài 15,3cm có một lưỡi sắc, mũi vuông, bản rộng nhất 03cm) bằng tay phải vung về phía bị hại khoảng 4, 5 lần trúng vào mặt và cánh tay trái làm bị hại tổn thương cơ thể theo Bản kết luận giám định pháp y về thương tích của Trung tâm P là 11%.
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ theo quy định tại Điều 12 của Bộ luật Hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.
4
Vì vậy, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thương tích, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 (với tình tiết định khung dùng hung khí nguy hiểm quy định tại điểm a khoản 1) Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
[4] Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có căn cứ và đúng với quy định của pháp luật.
[5] Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, không chỉ xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự an toàn xã hội. Vì vậy, việc xét xử đối với bị cáo là cần thiết nhằm giáo dục bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe phòng ngừa tội phạm.
[6] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tiền án, tiền sự; phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường đầy đủ (85.700.000 đồng) theo yêu cầu của bị hại nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo đang ở cùng với bố mẹ chồng thờ cúng liệt sĩ; bị cáo gây thương tích cho bị hại xuất phát từ mâu thuẫn về việc tranh chấp đất đai trước đó giữa bố mẹ bị cáo và gia đình bị hại nên khi bị cáo và bị hại cãi, chửi nhau thì cả hai đều chủ động lao vào giằng co, xô đẩy, túm tóc, đánh nhau; hành vi đánh nhau với bị cáo của bị hại đã bị Công an huyện T ra quyết định xử phạt hành chính; tại phiên toà bị hại cũng thừa nhận để xẩy ra sự việc hôm nay lỗi chính là ở bị cáo nhưng bị hại cũng có một phần lỗi nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[7] Xét căn cứ quyết định hình phạt:
Bị cáo có nhân thân tốt; ngoài lần phạm tội này, bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân nơi cư trú. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.
Xét thấy: Hành vi gây thương tích của bị cáo đối với bị hại là nhất thời, bột phát, xuất phát từ mâu thuẫn trước đó giữa hai gia đình; bị hại có một phần lỗi. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã nhận thức được lỗi sai của mình để khắc phục, sửa chữa; bị cáo là phụ nữ lại đang mang thai tháng thứ 6, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng và có khả năng tự cải tạo nên việc cho bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, đồng thời cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường, không có yêu cầu nào khác. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết về trách nhiệm dân sự.
5
[9] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 USB do bà Bùi Thị D giao nộp là tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Đối với 01 con dao dạng dao bài bị cong, dài 15,3cm có một lưỡi sắc, mũi vuông, bản rộng nhất 03cm là công cụ phạm tội nên cần tịch thu, tiêu hủy theo điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[10] Về vấn đề khác: Trong vụ án này, hành vi đánh nhau với bị cáo của bị hại và con gái là Nguyễn Thị Mai C, ngày 12-9-2024 Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt hành chính theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 7 Nghị định số 144/NĐ-CP ngày 31-12-2021 của Chính phủ là đúng quy định pháp luật.
[11] Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm,
[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội Cố ý gây thương tích.
2. Về hình phạt: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị N 24 (Hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao Nguyễn Thị N cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, thành phố Hải Phòng nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
“Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự như sau:
Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở ý tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm
6
trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
Việc giải quyết người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.
Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách”.
3. Căn cứ khoản 2 Điều 36 của Luật xuất, nhập cảnh của công dân Việt Nam, tạm hoãn xuất cảnh đối với Nguyễn Thị N trong thời gian thử thách.
4. Về biện pháp ngăn chặn: Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 45; điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự, huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Nguyễn Thị N kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
5. Về vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
Tịch thu, tiêu hủy: 01 (Một) con dao dạng dao bài bị cong, dài 15,3cm có một lưỡi sắc, mũi vuông, bản rộng nhất 03cm (có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 16 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng).
6. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Thị N phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
7. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Nguyễn Thị N và bị hại Phạm Thị T1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
8. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tùng |
7
- Chi cục THADS huyện Tiên Lãng;
- UBND xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.
Nguyễn Thanh Tùng
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
| Nguyễn Văn Tới Hoàng Văn Đoan | Nguyễn Thanh Tùng |
8
9
Bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường tiền thu nhập thực tế bị mất do phải nghỉ làm trong thời gian điều trị, phục hồi chức năng 12 ngày nằm viện là 4.200.000 đồng; nghỉ làm 07 tháng là 63.000.000 đồng: Bị hại trình bày bị gẫy xương bàn V tay phải đã can xương nên phải bó bột 2 lần (mỗi lần 20 ngày) + với thời gian nghỉ phục hồi sức khoẻ theo hướng dẫn (bằng lời nói) của bác sỹ nên đã nghỉ việc không lương trong thời gian 07 tháng; thực tế, sau thời gian khoảng 05 tháng thì các vết thương đã ổn định, sinh hoạt bình thường... nhưng để đảm bảo cho các vết thương không bị tái phát nên bị hại đã nghỉ làm trong thời gian là 07 tháng; thu nhập thực tế của bị hại tại Công ty là 9.000.000 đồng/tháng. Tại Biên bản xác minh ngày 12-12-2023, Công ty TNHH N1 cung cấp bị hại hai lần xin nghỉ ốm (lần 1, từ ngày 10-12-2022 đến ngày 30-4-2023; lần 2, từ ngày 18-7-2023 đến ngày 21-8-2023) với thời gian là 05 tháng 23 ngày.
Như vậy, có căn cứ xác định thu nhập thực tế của bị mất trong thời gian cứu chữa, điều trị, phục hồi sức khỏe của bị hại là: 05 tháng x 9.000.000 đồng = 45.000.000 đồng. Không chấp nhận yêu cầu của bị hại đối với thu nhập thực tế bị mất do phải nghỉ làm trong thời gian điều trị, phục hồi chức năng (thời gian 12 ngày nằm việc) với số tiền 4.200.000 đồng.
10
Phần bồi thường:
Đồng ý bồi thường: Chi phí điều trị tại Trung tâm y tế huyện T trong thời gian 11 ngày là 2.836.638 đồng, chi phí điều trị tại Bệnh viện P1 trong thời gian 07 ngày là 6.139.738 đồng và chi phí chụp CT sọ não tại Bệnh viện H là 1.039.000 đồng; cộng là 10.015.000 đồng.
Không đồng ý bồi thường thu nhập thực tế bị mất: 05 tháng x 13.000.000 đồng/tháng = 65.000.000 đồng vì quá cao.
Chỉ đồng ý bồi thường thu nhập thực tế bị mất: 03 tháng x 7.500.000 đông = 22.500.000 đồng.
Vì: Anh T3 làm lái xe tải nhỏ nên thu nhập trung bình ở nơi bị cáo cư trú chỉ khoảng 2.500.000 đồng/ngày (7.500.000 đồng/tháng).
Thực tế thu nhập lao động phổ thông trung bình tại nơi bị cáo cư trú chỉ khoảng 200.000 đồng/ngày (6.000.000đ/tháng).
Còn thời gian từ khi anh T3 bị thương tích đến khi khỏe mạnh, đi làm bình thường chỉ mất khoảng thời gian khoảng 02 đến 03 tháng.
- Về tổn thất tinh thần và những yêu cầu khác của anh T3 đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Mục đích bị cáo nộp 50.000.000 đồng vào Chi cục Thi hành án huyện Tiên Lãng là để bồi thường cho anh T3.
Bị cáo gây thương tích cho anh T3 xuất phát từ việc trước đó cho anh T3 vay nợ, nhiều lần đòi không được. Nên khi nói chuyện với anh T3 ở nhà anh C1 thì T3 có lời nói khó nghe, thái độ ngoan cố, thách thức bị cáo ...nên trong lúc không làm chủ được bản thân nên bị cáo đã gây thương tích cho anh T3.
Sau khi cãi chửi nhau bị cáo và anh T3 cùng lao vào đánh đấm lẫn nhau, sau đó bị cáo dùng điếu cày đánh anh T3 và anh T3 cũng đã dùng gậy sắt đánh lại vào người bị nhưng thương tích nhẹ nên bị cáo đã từ chối giám định. Nếu xét về nguyên nhân và lỗi dẫn đến việc bị cáo gây thương tích thì anh T3 cũng có lỗi.
11
Do bị cáo và bị hại không thỏa thuận được với nhau về số tiền bồi thường nên căn cứ các Điều 584, 585, 590 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xác định các khoản bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm như sau:
- Chi phí điều trị tại Trung tâm y tế huyện T trong thời gian 11 ngày là 2.836.638 đồng + chi phí điều trị tại Bệnh viện P1 trong thời gian 07 ngày là 6.139.738 đồng + chi phí chụp CT sọ não tại Bệnh viện H là 1.039.000 đồng = 10.015.000 đồng;
- Anh T3 trình bày trước khi bị thương tích, anh làm công việc lái xe với thu nhập bình quân mỗi tháng là 13.000.000 đồng và sau khi điều trị, phục hồi chức năng cần khoảng thời gian nghỉ dưỡng, phục hồi sức khỏe sau khi bị thương tích là 132 ngày
nhưng
không cung cấp được Hợp đồng lao động hoặc văn bản xác nhận của nơi làm việc về mức thu nhập này. Xác minh tại chính quyền địa phương nơi anh T3
12
cư trú thể hiện mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại địa phương khoảng 250.000 đồng/ngày (7.500.000 đồng/tháng).
Việc bị hại cho rằng cần khoảng thời gian nghỉ dưỡng, phục hồi sức khỏe sau khi bị thương tích là hợp lý; tuy nhiên bị hại yêu cầu khoảng thời gian này là 132 ngày nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ. Xác minh tại chính quyền địa phương nơi anh T3 cư trú thể hiện từ khi anh T3 bị thường tích đến khi bình phục mất thời gian khoảng 60 đến 90 ngày nên chấp nhận thời gian này là 72 ngày. Như vậy, thời gian bị hại điều trị, phục hồi chức năng, nghỉ dưỡng, phục hồi sức khỏe là: 18 ngày + 72 ngày = 90 ngày (03 tháng).
Xác định thu nhập thực tế anh T3 bị mất trong thời gian cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe là 6.000.000 đồng x 03 tháng = 18.000.000 đồng.
- Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm: Anh T3 bị tổn thương cơ thể là 12%. Theo quy tại khoản 2 Điều 590 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì mức tối đa cho một người sức khỏe bị xâm phạm không quá 50 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định nên chấp nhận mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần cho anh T3 do sức khỏe bị xâm phạm là 10 tháng lương cơ sở: 1.490.000 đồng x 10 = 14.900.000 đồng.
- Anh T3 không yêu cầu bồi thường phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc trong thời gian điều trị nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Như vậy, tổng số tiền bị cáo phải bồi thường cho bị lại là: 10.015.000 đồng + 18.000.000 đồng + 14.900.000 đồng = 43.015.000 đồng.
Xét thấy: Hành vi gây thương tích của bị cáo đối với bị hại là nhất thời, bột phát, xuất phát từ nguyên nhân mâu thuẫn trước đó giữa bị cáo và bị hại về việc vay nợ; khi bị cáo yêu cầu bị hại trả nợ thì hai bên đã xẩy ra tranh cãi, đánh nhau, bị cáo dùng điếu cày đánh bị hại và bị hại cũng dùng gậy kim loại đánh trả bị cáo, mặc dù không gây thương tích cho bị cáo (do bị cáo từ chối giám định và không yêu cầu bồi thường). Như vậy, việc bị cáo gây thương tích cho bị hại thì bị hại cũng có một phần lỗi.
13
Bản án số 75/2024/HS-ST ngày 27/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về cố ý gây thương tích (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 75/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
