|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 75/2024/HS-ST Ngày 22 tháng 11 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN-TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ngọc Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Chế Thị Hồng Cẩm;
Ông Hồ Văn Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Văn Trường, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn tham gia phiên tòa: Bà Néang Ly, Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 72/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2024/QĐXXST-HS, ngày 28 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Hoàng N, sinh ngày 05/3/1989, tại huyện T, tỉnh An Giang;
nơi cư trú: Khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang. Chỗ ở hiện nay: ấp T, xã N, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Phật giáo; con ông Nguyễn Hồng T (chết) và bà Nguyễn Thị Kim T1 (chết); vợ Nguyễn Thị Tuyết N1, sinh năm 1992, có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2015; anh, em có 02 người, bị cáo là người thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/7/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người chứng kiến: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1981; ông Chau K, sinh năm 1962, tất cả vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ, ngày 24/7/2024, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế và ma túy của Công an huyện T phối hợp Công an xã N đến khu vực phòng trọ số A nhà T thuộc ấp T, xã N, huyện T, do Nguyễn Hoàng N thuê, kiểm tra phát hiện trên
bàn 01 hộp màu trắng, bên trong có 02 đoạn ống hút chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy, nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng vật chứng là dụng cụ sử dụng ma túy và điện thoại di động. Qua làm việc, N khai nhận 02 đoạn ống hút bị thu giữ là ma túy đá mua của Nguyễn Thị P, với số tiền 300.000 đồng vào ngày 23/7/2024, N lấy một ít sử dụng, số ma túy còn lại cất giấu để dành sử dụng, thì bị phát hiện bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ: 02 đoạn ống hút nhựa màu vàng sọc trắng, bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 chai nhựa nắp màu đen, trên nắp chai có gắn 01 nỏ thủy tinh và ống hút nhựa màu tím; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A11, màu xanh, số seri R9JN80R80BJ, số EMEI 1: 356418117924617, số EMEI 2: 356419117924615, có gắn sim số 0376649921 đã qua sử dụng.
Căn cứ Kết luận giám định số 1052/KL-KTHS ngày 31/7/2024 của Phòng kỹ hình sự Công an tỉnh A, kết luận: 02 đoạn ống hút nhựa màu vàng sọc trắng chứa tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,2152 gam.
Cáo trạng số 71/CT-VKSTT.HS ngày 25 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn truy tố bị cáo N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hoàng N khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo Nguyễn Hoàng N, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, vai trò tham gia trong vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo N từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong (Vụ số: 1052/KL-KTHS ngày 31 tháng 7 năm 2024) có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H, Chau R. Bên trong có mẫu vật còn lại sau khi đã giám định, khối lượng: 0,1817g; 01 chai nhựa nắp màu đen, trên nắp chai có gắn 01 nỏ thủy tinh và ống hút nhựa màu tím; tịch thu sung nộp Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung A11, màu xanh, số seri R9JN80R80BJ, số EMEI 1: 356418117924617, số EMEI 2: 356419117924615, có gắn sim số 0376649921 đã qua sử dụng là công cụ bị cáo dùng liên lạc mua ma túy tàng trữ sử dụng. Đối với Nguyễn Thị P đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T khởi tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Điều 251 Bộ luật Hình sự, vụ án được chuyển đến Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh A thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền.
Bị cáo không tranh luận, lời nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng
Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa người chứng kiến vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hoàng N đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 16 giờ ngày 24/7/2024, khu vực phòng trọ số 14 nhà T thuộc ấp T, xã N, huyện T, bị cáo Nguyễn Hoàng N đã có hành vi tàng trữ 0,2152 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt quả tang. Hành vi của bị cáo N đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2017, có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Cho nên, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, là nguyên nhân xảy ra nhiều loại tội phạm khác, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình. Do đó, cần xử lý nghiêm minh với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và nhằm mục đích răn đe, phòng ngừa chung.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo là người trưởng thành, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật và phải chịu chế tài hình sự nghiêm khắc nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu về ma túy của bản thân.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo N có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật có phần bị hạn chế; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xét thấy: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo thuộc tội phạm nghiêm trọng nên cần phải áp dụng một chế tài hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
[5] Bản thân bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Đối với Nguyễn Thị P đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T khởi tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Điều 251 Bộ luật Hình sự, vụ án được chuyển đến Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh A thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền nên không đề cập giải quyết trong vụ án.
[7] Về vật chứng của vụ án 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong (Vụ số: 1052/KL-KTHS ngày 31 tháng 7 năm 2024) có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H, Chau R. Bên trong có mẫu vật còn lại sau khi đã giám định, khối lượng: 0,1817g; 01 chai nhựa nắp màu đen, trên nắp chai có gắn 01 nỏ thủy tinh và ống hút nhựa màu tím, đây là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy. Đối với điện thoại di động hiệu Samsung A11, màu xanh, số seri R9JN80R80BJ, số EMEI 1: 356418117924617, số EMEI 2: 356419117924615, có gắn sim số 0376649921 đã qua sử dụng là của bị cáo dùng để liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu sung nộp Ngân sách Nhà nước.
[8] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng N 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 24/7/2024.
Căn cứ Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong (Vụ số: 1052/KL-KTHS ngày 31 tháng 7 năm 2024) có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H, Chau R. Bên trong có mẫu vật còn lại sau khi đã giám định, khối lượng: 0,1817g; 01 chai nhựa nắp màu đen, trên nắp chai có gắn 01 nỏ thủy tinh và ống hút nhựa màu tím.
- Tịch thu sung nộp Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động của bị cáo Nguyễn Hoàng N, hiệu Samsung A11, màu xanh, số seri R9JN80R80BJ, số EMEI 1: 356418117924617, số EMEI 2: 356419117924615, có gắn sim số 0376649921 đã qua sử dụng.
(Đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Điều tra - Công an huyện T với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn ngày 21/11/2024).
Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí, bị cáo Nguyễn Hoàng N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Thị Ngọc Hà |
Bản án số 75/2024/HS-ST ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN TỈNH AN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 75/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
