Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2024/HS-ST

Ngày 08-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hoàng Minh Thông

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phan Thị Minh Phương

Bà Đặng Thị Đôi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 11 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng mở phiên tòa trực tuyến tại các điểm cầu:

Điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy.

Điểm cầu thành phần: Nhà tạm giữ - Công an huyện K.

Người tiến hành tố tụng khác tại điểm cầu thành phần: Bà Đinh Thị Hồng P - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.

Để xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 68/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Phúc L, sinh ngày 23/01/2004, tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Phán Đ và bà Nguyễn Thị Hồng C; tiền án: Tại Bản án số 26 ngày 09/5/2023 Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng xử phạt 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/8/2024 đến ngày 31/8/2024 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện K; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy, khoảng 19 giờ 00 phút ngày 28/8/2024, Nguyễn Phúc L đi xe taxi đến khu vực đường T, thuộc quận L, thành phố Hải Phòng mua 02 viên ma túy MDMA và 01 túi ma túy loại Ketamine của người phụ nữ không quen biết với tổng số tiền là 1.400.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, L cho ma túy đã mua được vào cạp quần đang mặc và đi taxi về nhà. Khoảng 23 giờ 45 phút cùng ngày, Nguyễn Phúc L cầm số ma túy mua được đi bộ ra khu vực đường T, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng tìm nơi sử dụng thì bị Công an huyện K, thành phố Hải Phòng phối hợp với Công an xã Đ kiểm tra bắt giữ. Thu giữ tại cạp quần phía trước của Nguyễn Phúc L 01 túi nilon kích thước 7x4cm, bên trong có 02 viên nén hình tam giác màu cam, niêm phong, ký hiệu là M1 và 01 túi nilon màu đỏ kích thước 2,5x2,5cm bên trong có tinh thể màu trắng, niêm phong ký hiệu là M2. Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Phúc L, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, thành phố Hải Phòng không thu giữ được đồ vật, tài liệu liên quan.

Kết luận giám định số 1035/KL-KTHS ngày 31/8/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: “02 viên nén hình tam giác màu cam của mẫu M1 là ma túy, loại MDMA, có khối lượng 0,8 gam. Tinh thể màu trắng của mẫu M2 là ma túy, loại Ketamine, có khối lượng 0,74 gam”.

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ thu thập được, ngày 31/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Nguyễn Phúc L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Phúc L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu.

Ngày 18 tháng 10 năm 2024, tại bản Cáo trạng số 69/CT-VKSKT của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng đã truy tố Nguyễn Phúc L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phúc L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đề nghị áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Phúc L từ 21 đến 24 tháng tù. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được đựng trong 01 phong bì còn nguyên niêm phong số 1035MT/PC09 của Phòng K Công an thành phố H theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 18/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.

Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình, xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên thuộc các cơ quan tiến hành tố tụng huyện K, thành phố Hải Phòng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo Nguyễn Phúc L tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K phù hợp với lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 23 giờ 45 phút cùng ngày, tại khu vực đường T, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng, Nguyễn Phúc L bị phát hiện, bắt giữ về hành vi cất giấu trái phép 0,8 gam ma túy loại MDMA và 0,74 gam ma túy loại Ketamine để sử dụng cá nhân. Hành vi của bị cáo Nguyễn Phúc L đã vi phạm Điều 249 Bộ luật Hình sự, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Nguyễn Phúc L về tội danh theo điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết định khung hình phạt: Nguyễn Phúc L có hành vi cất giữ trái phép 0,8 gam ma túy loại MDMA, đây là chất ma túy được quy định tại Danh mục I ban hành kèm theo Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ; cất giữ trái phép 0,74 gam ma túy loại Ketamine. Ketamine là chất ma túy được quy định tại Danh mục III ban hành kèm theo Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ. Như vậy, bị cáo Nguyễn Phúc L tàng trữ trái phép 02 chất ma túy không được quy định trong cùng một điểm thuộc các khoản của Điều 249 Bộ luật Hình sự. Khối lượng chất ma túy loại MDMA do Nguyễn Phúc L tàng trữ trái phép là 0,8 gam, dưới mức tối thiểu theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249; khối lượng chất ma túy Ketamine do Nguyễn Phúc L tàng trữ trái phép là 0,74 gam, dưới mức tối thiểu theo quy định tại điểm 1 khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do vậy Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 5 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02 tháng 02 năm 2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 để xác định khung hình phạt đối với bị cáo. Với khối lượng chất ma túy loại MDMA do Nguyễn Phúc L tàng trữ trái phép là 0,8 gam thì tỷ lệ phần trăm về khối lượng chất ma túy loại MDMA so với mức tối thiểu đối với chất ma túy loại MDMA quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là 0,8: 5 x 100% = 16%. Với khối lượng chất ma túy loại Ketamine Nguyễn Phúc L tàng trữ trái phép là 0,74 gam thì tỷ lệ phần trăm về khối lượng chất ma túy loại Ketamine so với mức tối thiểu đối với chất ma túy loại Ketamine quy định tại điểm 1 khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là 0,74 : 20 x 100% = 3,7%. Như vậy tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng các chất ma túy do Nguyễn Phúc L tàng trữ trái phép là 16% + 3,7% = 19,7% (dưới 100%), bị cáo không vi phạm tình tiết nào khác, do vậy bị cáo Nguyễn Phúc L phải chịu trách nhiệm hình sự theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Tính chất của vụ án là nghiêm trọng. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Nguyễn Phúc L là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma túy của nhà nước mà còn tạo ra một lớp người nghiện, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của con người. Tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy không những là một trong các nguyên nhân làm phát sinh nhiều vi phạm pháp luật mà còn gây mất trật tự, mất an toàn xã hội. Vì vậy, pháp luật yêu cầu phải xử lý nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như đáp ứng yêu cầu phòng ngừa chung.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại Bản án số 26 ngày 09/5/2023 Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng xử phạt 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tính đến ngày phạm tội, bị cáo chưa được xóa án, lần phạm tội này của bị cáo là “Tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Phúc L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Về hình phạt chính đối với bị cáo: Hội đồng xét xử cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, căn cứ nhân thân người phạm tội, cân nhắc tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy cần áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Phúc L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với mức án nghiêm khắc và cần thiết phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

[8] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Phúc L.

[9] Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án gồm số ma túy còn lại sau giám định được đựng trong 01 phong bì còn nguyên niêm phong số 1035MT/PC09 của Phòng K Công an thành phố H. Đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

[10] Đối với người phụ nữ bán ma túy cho Nguyễn Phúc L, quá trình điều tra chưa xác định được lai lịch, địa chỉ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã tách ra tiếp tục điều tra để xử lý sau.

[11] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Phúc L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
    • - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phúc L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Phúc L 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 29/8/2024;
    • - Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Phúc L.
  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được đựng trong 01 phong bì còn nguyên niêm phong số 1035MT/PC09 của Phòng K Công an thành phố H theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 18/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.
  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Phúc L phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện Kiến Thụy;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - CQCSĐT-Công an huyện Kiến Thụy
  • - CQTHAHS-Công an huyện Kiến Thụy;
  • - PV06; PC10 Công an TP. Hải Phòng;
  • - Chi cục THADS huyện Kiến Thụy;
  • - Sở Tư pháp Hải Phòng;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Kiến Thụy;
  • - Lưu: VT, Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Minh Thông

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2024/HS-ST ngày 08/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 75/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ử phạt bị cáo Nguyễn Phúc L 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 29/8/2024
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger