Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỌ XUÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2024/HS-ST

Ngày 07/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Công

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Đăng Thiện;

Bà Đỗ Thị Phương – Giáo viên;

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân

dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa

tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Tân - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 69/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024.

Đối với bị cáo: Nguyễn Thị Diệu L, sinh ngày 04 tháng 5 năm 2008 tại thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Khu A, thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn C (đã chết) và bà Phùng Thị H, sinh năm 1986; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con đầu; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo đang áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Chị Phùng Thị H, sinh năm 1986 (mẹ ruột bị cáo), địa chỉ: Khu A, thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Ngọc K – Trợ giúp viên pháp lý của Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 6, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. Có mặt.

- Bị hại: Ông Phạm Lưu Đ, sinh năm 1955, địa chỉ: Khu phố G, thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. (đã chết).

- Người đại diện hợp pháp của bị hại:

  1. Bà Lê Thị P, sinh năm 1954, địa chỉ: Khu phố G, thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  2. Anh Phạm Lưu V, sinh năm 1979, địa chỉ: Khu phố G, thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  3. Chị Phạm Thị B, sinh năm 1981, địa chỉ: Xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  4. Anh Phạm Lưu C1, sinh năm 1983, địa chỉ: Huyện T, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
  5. Chị Phạm Thị T, sinh năm 1990, địa chỉ: Xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của bà P, chị B, anh C1, chị T: Anh Phạm Lưu V, sinh năm 1979, địa chỉ: Khu phố G, thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

  1. Cháu Lê Thị T1, sinh năm 2009, địa chỉ: địa chỉ: Khu phố G, thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của cháu T1: Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1987, địa chỉ: Thôn Q, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

  1. Cháu Nguyễn Văn B1, sinh năm 2011, địa chỉ: Khu A, thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của cháu B1: Chị Phùng Thị H, sinh năm 1986, địa chỉ: Khu A, thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

  1. Anh Bùi Xuân T2, sinh năm 1968, địa chỉ: Khu phố G, thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  2. Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1980, địa chỉ: Khu phố G, thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  3. Chị Phạm Thị H2, sinh năm 1986, địa chỉ: Khu phố G, thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  4. Anh Đinh Thế T3, sinh năm 1993, địa chỉ: Thôn Q, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 17/06/2024, Nguyễn Thị Diệu L lấy xe mô tô kiểm soát 36D1-746.36 của mẹ đẻ là bà Phùng Thị H đang dựng ở sân nhà chở theo Lê Thị T1 (sinh năm 2009, trú tại thôn Q, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; là em họ của L) ngồi giữa và Nguyễn Văn B1 (sinh năm 2011, trú tại khu A, thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; là em ruột của L) ngồi sau cùng đi từ nhà đến cánh đồng ở xã X để chơi.

Khi đi đến tỉnh lộ 506B, đoạn qua khu phố G, thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; L điều khiển xe di chuyển ở giữa đường, theo hướng từ thị trấn L đến xã X. Đoạn đường này có biển cảnh báo giao nhau với đường không ưu tiên nhưng L không chú ý quan sát, không giảm tốc độ mà điều khiển xe mô tô di chuyển với tốc độ trong khoảng 62.6 đến 68.9km/h. Cùng lúc này, có ông Phạm Lưu Đ (sinh năm 1955, trú tại khu phố G, thị trấn L, huyện T) đang đi bộ dọc theo mép đường bên phải tỉnh lộ 506B theo hướng cùng chiều, phía trước so với xe của L. Khi ông Đ đi bộ ngang sang đường, theo chiều từ phải sang trái so với hướng di chuyển của L. Do không chú ý quan sát phía trước mà nhìn xung quanh hai bên đường nên đã không phát hiện thấy ông Đ. T1 ngồi phía sau nhìn thấy ông Đ đang sang đường nhưng L không có dấu hiệu giảm tốc độ nên đã đập tay vào người L và nói "ông kìa" để nhắc L. Khi L nhìn về trước và phát hiện thấy ông Đ thì khoảng cách giữa xe của L với ông Đ chỉ còn 02-03m. Lúc này, L không đạp phanh giảm tốc độ mà đánh lái xe sang trái để tránh né khi ông Đ đã di chuyển sang đến phần đường bên trái (theo hướng di chuyển của L), dẫn đến xe mô tô của L đã đâm va vào người ông Đ. Sau va chạm, ông Đ ngã xuống đường, chết trên đường đi cấp cứu. L, T1 và B1 cũng bị ngã theo xe mô tô xuống đường, nhưng chỉ bị xây xước nhẹ ngoài da.

* Hiện trường vụ tai nạn giao thông tại đường tỉnh lộ 506B đoạn qua khu phố G, thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Đoạn đường thẳng, rải nhựa bằng phẳng, rộng 8m, giữa đường có vạch kẻ sơn màu vàng nét đứt. Hướng đường B - N, hướng Bắc là hướng đi xã X, hướng Nam là hướng đi UBND thị trấn L. Hai bên lề đường là hướng Đông và hướng Tây, tiếp giáp với nhà dân; hướng Tây tiếp giáp với ngõ cụt, có độ mở rộng giao nhau là 3m và nhà ông Phạm Lưu V (con trai ông Đ). Lề đường hai bên là nắp cống thoát nước, mỗi bên rộng 0,5m.

Lấy mép đường bên trái tỉnh lộ 506B theo hướng đi xã X vạch chuẩn, ký hiệu A. Lấy cột biển báo giao nhau với đường không ưu tiên (biển ký hiệu W.207d) tại lề đường bên phải theo hướng đi xã X (vị trí trước nhà ông Hồ Sỹ T4) làm điểm mốc. Qua điểm mốc kẻ đường thẳng vuông góc với vạch chuẩn tạo đường thẳng cố định, ký hiệu B.

- Vết chất màu nâu đỏ (dạng máu loang) đã khô trên mặt đường, kích thước (1x0,6)m. T5 vết cách A là 2,5m và cách B là 2,5m về hướng N. Ký hiệu (1).

- Vết cà trượt liên tục trên mặt đường dài 1,5m, rộng 0,01m. Vết có chiều Đ - T, vết hơi cong về phía bên trái theo chiều hướng của vết. Vị trí vết: Đầu vết cách A là 1,7m, cách vết (1) là 2,2m về hướng T. Đuôi vết cách A là 1,03m. Ký hiệu (2).

- Xe mô tô biển kiểm soát 36D1-746.36 nằm đổ nghiêng trái trên mặt đường. Đầu xe quay hướng T, đuôi xe quay hướng Đông Nam. Vị trí của xe mô tô: T5 trục bánh trước nằm trên A; T5 trục bánh sau cách A là 0,8m, cách đuôi vết (2) là 0,5m về hướng T. Ký hiệu (3).

Tại đoạn đường nơi xảy ra tai nạn giao thông, ở mỗi bên lề đường có 01 biển báo giao nhau với đường không ưu tiên (biển ký hiệu W.207d).

* Ngày 17/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã trưng cầu Phòng K2 Công an tỉnh T, giám định pháp y tử thi ông Phạm Lưu Đ. Tại Kết luận giám định tử thi số 2442/KLGĐTT-PC09 ngày 26/06/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh T, kết luận:

  • Kết quả khám nghiệm: Các vết xây xước da, bầm tím tại vùng: Đầu, mặt, vai, tay trái; Chấn thương sọ não: Tụ máu tổ chức dưới da đầu vùng trán đỉnh phải, vùng chẩm trái; Xuất huyết khoang dưới nhện bán cầu đại não hai bên; Phù não, não thất bên chứa dịch máu.
  • Kết luận nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não.

* Ngày 20/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã trưng cầu Phòng K2 Công an tỉnh T tiến hành giám định dấu vết cơ học trên chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36D1-746.36. Kết quả khám nghiệm phương tiện:

Mặt ngoài trên bên phải phần trước chắn bùn trước, cánh yếm bên phải, bên phải mặt nạ, mặt trước ốp nhựa bên phải đầu xe, có vết tỳ trượt làm sạch bụi đất, nứt vỡ nhựa trong diện (79x50)cm. Vết có chiều từ trước về sau, chếch từ trái sang phải. Bề mặt vết in đường song song dạng vân vải. Vết cao cách mặt đất là 18cm-95cm. Vết làm nứt vỡ cánh yếm bên phải.

Mặt ngoài tay nắm bên trái, giá để chân sau, chân trước bên trái có vết cà trượt làm mòn xước kim loại. Vết có chiều từ trước về sau. Bề mặt vết bám dính chất màu trắng dạng bột đá.

Tại Kết luận giám định số 2567/KL-KTHS ngày 09/07/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh T, kết luận:

  • Dấu vết tỳ trượt mặt ngoài trên bên phải phần trước chắn bùn trước, cánh yếm bên phải, bên phải mặt nạ, mặt trước ốp nhựa bên phải đầu xe mô tô biển kiểm soát 36D1-746.36 phù hợp do va chạm với quần áo và người nạn nhân Phạm Lưu Đ tạo nên.
  • Tại thời điểm va chạm, xe mô tô biển kiểm soát 36D1-746.36 có hướng chuyển động từ UBND thị trấn L đi xã X. Không đủ cơ sở xác định hướng di chuyển của nạn nhân Phạm Lưu Đ.
  • Vị trí va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 36D1-746.36 với nạn nhân Phạm Lưu Đ nằm trước vết cà trượt (2), thuộc phần đường bên phải theo chiều từ xã Xuân Thiên đi UBND thị trấn L.
  • Không đủ cơ sở xác định tốc độ của xe mô tô biển kiểm soát 36D1-746.36 tại thời điểm xảy ra va chạm.

* Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã thu thập 01 file video được trích xuất từ Camera ghi hình của nhà ông Trần Văn K1 (sinh năm 1985, trú tại khu phố G, thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa) ghi nhận hình ảnh diễn biến vụ tai nạn giao thông và Quyết định trưng cầu giám định.

Tại bản Kết luận giám định số 3071/KL-KTHS, ngày 22/08/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh T đối với file video trên, kết luận:

  • Không phát hiện dấu hiệu chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong một file video gửi giám định. Trích xuất 06 ảnh từ file video trên.
  • Tại thời điểm 18:15:01 (theo thời gian hiển thị trên màn hình - trước khi xảy ra va chạm), tốc độ của xe mô tô từ 62.6 đến 68.9 (km/h).

Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc, cho bị cáo Nguyễn Thị Diệu L, người liên quan Lê Thị T1 và Nguyễn Văn B1 xem hình ảnh được trích xuất từ video qua công tác giám định. L, B1 và T1 xác nhận hình ảnh, video phản ánh đúng thực tế, khách quan diễn biến vụ tai nạn giao thông.

* Tiến hành xem xét dấu vết trên thân thể:

  • Đối với Nguyễn Thị Diệu L: 01 vết xây xước da rớm máu, kích thước (01 x 02)cm tại mặt ngoài 1/3 dưới cẳng chân phải, phía trên mắt cá chân. Tại vị trí khuỷu tay phải, cạnh ngoài bàn tay phải, khuỷu tay trái, cạnh ngoài bàn tay trái có vết xây xước da.
  • Đối với Nguyễn Văn B1: Mu bàn chân có vết xước da rớm máu, kích thước (01 x 02)cm. Tại mặt sau ngoài 1/3 trên cẳng tay phải có vết xước da rớm máu, kích thước (01 x 02)cm. Má trong ngón trỏ bàn tay phải sưng tấy da.
  • Đối với Lê Thị T1: Tại mặt ngoài 1/3 trên cẳng tay phải có vết xước da, rớm máu, kích thước (05 x 02)cm. Tại bốn đầu khớp đốt trong giáp mu bàn tay phải có các vết xước da, rớm máu.

Vết thương của L, B1 và T1 đều là các vết xước nhẹ ngoài da, đã bình phục ngay sau khi xảy ra tai nạn, không để lại thương tích gì và không ảnh hưởng đến sức khỏe. Cả ba không yêu cầu, đề nghị giám định thương tích.

* Tiến hành kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của Nguyễn Thị Diệu L tại thời điểm 00 giờ 07 phút ngày 18/06/2024. Kết quả: 0.000mg/L khí thở.

Xét nghiệm mẫu nước tiểu của Nguyễn Thị Diệu L, kết quả: Âm tính với các chất gây nghiện (ma túy).

* Phần dân sự: Gia đình bị cáo đã bồi thường cho gia đình ông Phạm Lưu Đ số tiền là 100.000.000 đồng. Các bên không có yêu cầu gì khác về phần dân sự; Chị Phùng Thị H không yêu cầu, đề nghị bồi thường dân sự về hư hỏng của xe mô tô biển kiểm soát 36D1-746.36.

Cáo trạng số 76/CT-VKSTX ngày 09/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Diệu L về tội : "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Diệu L phạm tội: "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ". Đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 điều 260; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 54; Điều 65; khoản 6 Điều 91 và khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự. xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Diệu L 24 (hai mươi bốn) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo thống nhất với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nhân thân, hoàn cảnh của bị cáo khi phạm tội để xét xử bị cáo mức án thấp nhất và cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Lời nói sau cùng bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra. Đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đều phản ánh thống nhất khách quan: Khoảng 18 giờ ngày 17/06/2024, Nguyễn Thị Diệu L (không có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36D1-746.36, phía sau chở theo Lê Thị T1 và Nguyễn Văn B1 di chuyển trên đường tỉnh lộ 506B, đoạn qua khu phố G, thị trấn L, huyện T (tốc độ di chuyển từ 62.6 km/h - 68.9km/h). Do không chú ý quan sát và giảm tốc độ, nên không phát hiện thấy ông Phạm Lưu Đ đang đi bộ sang đường từ phải sang trái so với hướng di chuyển của L. Khi phát hiện thấy ông Đ cách xe khoảng 02m-03m thì L đánh lái sang trái để tránh né, dẫn đến phần đầu xe mô tô đâm va vào ông Đ tại phần đường bên trái, hậu quả ông Đ chết trên đường đi cấp cứu do chấn thương sọ não.

Bị cáo L tham gia giao thông đường bộ không chú ý quan sát, không chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ, không làm chủ tốc độ, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi gặp chướng ngại vật, không có bằng lái đã vi phạm quy định tại khoản 23 Điều 8; khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ; điểm a khoản 7 điều 6 Nghị định 100/2019/NĐ-CP. Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Thị Diệu L phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm a khoản 2 Điều 260 BLHS. Do đó, cáo trạng số 76/CT-VKSTX ngày 09/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Diệu L là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Về tính chất của vụ án và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Đây là vụ án có tính chất rất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, bị cáo điều khiển xe mô tô tham gia giao thông, không có giấy phép lái xe nhưng vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây hậu quả nghiêm trọng, gây thiệt hại về tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ. Trong tình hình hiện nay tình trạng vi phạm luật giao thông đường bộ đang là mối quan tâm của toàn xã hội, hậu quả của những vi phạm này là rất nghiêm trọng, ảnh hưởng tới trật tự trị an xã hội. Vì vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh .

[4]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo là người có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã bồi thường cho bị hại; được UBND thị trấn L, Ban chấp hành Đ thị trấn L, Hiệu trưởng trường THPT L1 có đơn đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và tạo điều kiện để bị cáo được tiếp tục học tập nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS.

Từ những nhận xét, đánh giá trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo phạm tội do lỗi vô ý, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, đang là học sinh lớp 10 nên nhận thức còn hạn chế, việc áp dụng hình phạt tù sẽ làm ảnh hưởng sâu sắc đến tương lai cũng như sự phát triển của bị cáo sau này. Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và Điều 65 Bộ luật hình sự, cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời thể hiện được chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội là người dưới 18 tuổi, tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo trở thành người tuân thủ pháp luật, có ích cho gia đình và xã hội.

[5]. Về phần dân sự: Gia đình bị cáo đã bồi thường cho gia đình ông Phạm Lưu Đ số tiền là 100.000.000 đồng. Các bên không có yêu cầu gì khác về phần dân sự; Chị Phùng Thị H không yêu cầu, đề nghị bồi thường dân sự về hư hỏng của xe mô tô biển kiểm soát 36D1-746.36 nên HĐXX không xem xét.

[6]. Về xử lý vật chứng của vụ án: Hội đồng xét xử không xem xét.

[7]. Về các tình tiết liên quan đến vụ án:

Đối với xe mô tô biển kiểm soát 36D1-746.36, nhãn hiệu HONDA WAVE ALPHA, màu sơn Đen Bạc là của bà Phùng Thị H (mẹ đẻ của Nguyễn Thị Diệu L). Chị H mua lại chiếc xe mô tô trên từ Đinh Thế T3 (sinh năm 1993, trú tại thôn Q, xã X, huyện T, Thanh Hóa) vào khoảng đầu năm 2023, hiện xe vẫn do T3 đứng tên đăng ký. Tra cứu hệ thống dữ liệu vật chứng, xác định xe mô tô trên không thuộc vật chứng, đồ vật liên quan của vụ án, vụ việc nào khác. Khi L lấy xe chị H không biết nên không có căn cứ xử lý đối với Phùng Thị H, CQĐT đã trả lại chiếc xe cho bà Phùng Thị H là phù hợp.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm a khoản 2 điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65; khoản 6 Điều 91 và khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Diệu L phạm tội : “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Diệu L 24 (hai mươi bốn) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Thị Diệu L cho Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Không xem xét.

4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Diệu L phải nộp 200.000 đ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp cho bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa
  • - VKSND huyện Thọ Xuân;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Công an huyện Thọ Xuân;
  • - Chi cục THADS huyện Thọ Xuân;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - Bị cáo;
  • - Người đại diện hợp pháp cho bị hại;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Ngọc Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2024/HS-ST ngày 07/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 75/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc:
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger