TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT TỈNH VĨNH LONG Bản án số: 75/2024/HS-ST Ngày 04-11-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Tấn Đồng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Phẩm
Ông Nguyễn Đinh Cường
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Bảo, là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít tham gia phiên tòa:
Ông Trần An Khương - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 61/2024/HS-ST ngày 02 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn L
sinh ngày 18 tháng 6 năm 1990 tại huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Nơi cư trú ấp P, xã B, huyện M, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn) lớp 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; Tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Út N và bà Hồ Thị V; có vợ là Trần Thị C (chưa đăng ký kết hôn) và 01 con sinh năm 2016; tiền án: không, tiền sự: không; nhân thân: Chưa có án tích, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/8/2024 đến nay (có mặt).
- Bị hại: Nguyễn Minh Trường S, sinh năm 1993; địa chỉ cư trú ấp P, xã B, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
- Hồ Thị V, sinh năm 1964; địa chỉ cư trú ấp P, xã B, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
- Nguyễn Văn Út N, sinh năm 1962; địa chỉ cư trú ấp P, xã B, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
- Người làm chứng:
- Trần Ngọc L1 (vắng mặt).
- Trần Vinh T (vắng mặt).
- Trần Vinh T1 (vắng mặt).
- Võ Văn V1 (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 14/4/2024, bị cáo Nguyễn Văn L đi uống rượu về đến đầu lộ Số 4 thuộc ấp P, xã B, huyện M, tỉnh Vĩnh Long thì điện thoại cho Trần Vinh T hỏi “Thạnh đang ở đâu” Thạnh nói “đang nhậu ở nhà” rồi bị cáo L kêu “Thạnh rước về nhà T nhậu” thì T đồng ý. Khoảng 20 phút sau T ra rước bị cáo L rồi chở về nhà của anh Trần Ngọc L1 (anh ruột của T) uống bia gồm có: Bị cáo L1, Trần Ngọc L1; T; bị hại Nguyễn Minh Trường S; Nguyễn Hùng N1, sinh năm: 1991, nơi cư trú: ấp P, xã B, huyện M, tỉnh Vĩnh Long và Võ Thị V2, sinh năm: 1991, nơi cư trú: số A, tổ A, ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Trong lúc uống bia Ngọc L1 và bị cáo L1 có lời qua tiếng lại, cả hai cặp cổ lẫn nhau, do hiểu lầm Ngọc L1 và bị cáo L1 đánh nhau nên S dùng tay đánh 02 cái vào mặt của bị cáo L1 làm mũi của bị cáo L1 chảy máu thì được T và N1 can ngăn ra. Bị cáo L1 không uống bia nữa nói đi về nhưng S không chịu cho bị cáo L1 về mà yêu cầu bị cáo L1 phải uống hết ly bia mới đi về nên bị cáo L1 uống hết ly bia rồi bỏ đi bộ về nhà. Khi về nhà bị cáo L1 lên võng nằm võng nghỉ thì nhớ lại chuyện bị S đánh nên bị cáo Lợi tức giận muốn tìm S để đánh lại.
Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, bị cáo L1 đi ra khu vực nhà bếp lấy con dao yếm mũi bằng, có chiều dài 40 cm; có cán bằng gỗ, tròn, chiều dài 13 cm; có lưỡi bằng kim loại màu đen, có một lưỡi sắc, mũi bằng, dài 27 cm, cầm trên tay phải đi bộ đến nhà Ngọc L1 tìm S, khi đến nhà Ngọc L1 thì bị cáo L1 thấy S; T; Ngọc L1; Trần Vinh T1 và Võ Văn V1 còn đang ngồi uống bia và hát nhạc. Bị cáo L1 đi lại cách vị trí S ngồi uống bia khoảng 50 cm dùng dao chém một nhát từ trên xuống trúng phía sau vai phải của S, bị cáo L1 tiếp tục đưa dao lên chém 02 nhát từ trên xuống thì S quay đầu lại thì trúng vào vùng trán bên phải và vùng trán bên trái của S gây thương tích. Lúc này S đứng dậy ôm bị cáo L1 giật xuống đất, T lại giật lấy con dao và can ngăn ra. Bị cáo L1 bỏ chạy về nhà, còn S được mọi người đưa đến Trạm y tế xã B để sơ cứu vết thương rồi chuyển Bệnh viện đa khoa tỉnh V điều trị. Đến ngày 17/04/2024 Sinh xuất viện và có đơn yêu cầu giám định tỷ lệ thương tích và xử lý hình sự đối với L1. Sau khi sự việc xảy ra bị cáo L1 bỏ địa phương đi làm thuê, đến ngày 31/7/2024 Cơ quan điều tra đã làm việc với bị cáo L1, qua làm việc bị cáo L1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tang vật và đồ vật thu giữ gồm:
- 01 con dao yếm mũi bằng, có chiều dài 40 cm; có cán bằng gỗ, tròn, chiều dài 13 cm; có lưỡi bằng kim loại màu đen, có một lưỡi sắc dài 27 cm, bản rộng nhất 6 cm, bản nhỏ nhất 3 cm, trọng lượng 0,4kg.
Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 116/KLTTCT-TTPY ngày 13/05/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh V kết luận về thương tích của bị hại Nguyễn Minh Trường S như sau:
1. Các kết quả chính:
- Vết thương trán – thái dương phải khoảng 10 cm, bờ sắc đứt động mạch thái dương nông, hiện tại sẹo kích thước 13 x 0,2 cm. Tỷ lệ 11%.
- Vết thương vai phải khoảng 6 cm, bờ sắc, nông, hiện tại sẹo kích thước 13 x 0,2 cm. Tỷ lệ 03%.
- Vết thương trán trái dài khoảng 12 cm hình chữ V, bờ sắt, cắt đôi cung mày trái, lóc một phần xương sọ trán, không vỡ sọ, không lộ màng cứng. Hiện tại sẹo vết thương phần mềm cung mày-mi trên kích thước 09x0,1 cm, lành sẹo. Tỷ lệ: 11 %.
- Những thương tích trên không gây cố tật.
2. Kết luận:
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Minh Trường S tại thời điểm giám định là: 23% (Hai mươi ba phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại thông tư.
Ngày 10/06/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Đến ngày 01/8/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã ra quyết định khởi tố bị can và ra Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Nguyễn Văn L về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tang vật và đồ vật thu giữ:
01 con dao yếm mũi bằng, có chiều dài 40 cm; có cán bằng gỗ, tròn, chiều dài 13 cm; có lưỡi bằng kim loại màu đen, có một lưỡi sắc dài 27 cm, bản rộng nhất 6 cm, bản nhỏ nhất 3 cm, trọng lượng 0,4kg. Cơ quan điều tra đã chứng minh đây là tài sản của bà Hồ Thị V. Đây là vật chứng có liên quan đến vụ án nên tiếp tục tạm giữ chờ xử lý.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:
Hiện nay bị hại Nguyễn Minh Trường S yêu cầu bị cáo L bồi thường các khoản chi phí như: Tiền viện phí, thuốc điều trị vết thương, tiền xe, ngày công lao động, tiền tổn thất tinh thần với tổng số tiền: 20.000.000 đồng. Với yêu cầu trên, bị cáo L thống nhất và đã tác động đến gia đình bồi thường xong. Bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Vào ngày 14/4/2024, bị hại Nguyễn Minh Trường S có dùng tay đánh 02 (hai) cái vào mặt của bị cáo L nhưng không gây thương tích và bị cáo L cũng không có yêu cầu xử lý bị hại Sinh nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với S.
Tại Cáo trạng số: 62/CT-VKS.HMT ngày 01 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít truy tố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội: Cố ý gây thương tích, theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung Cáo trạng và đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; Điều 47; các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 và Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; các Điều 106 và Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án. Đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội: Cố ý gây thương tích và đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; về trách nhiệm bồi thường thiệt hại không có yêu cầu nên không xét; về vật chứng đề nghị tịch thu tiêu hủy và về án phí miễn án phí buộc bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bà V không yêu cầu nhận lại tài sản là con dao.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận mình có tội và không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, tỉnh Vĩnh Long, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn L khai nhận: Vào lúc khoảng 21 giờ 20 phút, ngày 14/04/2024, tại nhà của anh Trần Ngọc L1, thuộc: ấp P, xã B, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Bị cáo Nguyễn Văn L đã dùng 01 con dao yếm mũi bằng, có chiều dài 40 cm; có cán bằng gỗ, tròn, chiều dài 13 cm; có lưỡi bằng kim loại màu đen, có một lưỡi sắc, mũi bằng, dài 27 cm, là hung khí nguy hiểm chém một nhát vào vùng vai và chém hai nhát vào vùng trán của bị hại Nguyễn Minh Trường S gây tổn thương cơ thể tỷ lệ 23%.
Xét; lời khai của bị cáo là phù hợp với nội dung cáo trạng và lời buộc tội của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng, kết quả giám định và phù hợp với các chứng cứ khác đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận: Nguyễn Văn L phạm tội: Cố ý gây thương tích, theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến khách thể được luật hình bảo vệ, đó là sức khỏe của người khác. Hành vi phạm tội của bị cáo không những vi phạm pháp luật mà còn gây bất bình trong xã hội, làm mất trật tự ở địa phương. Đi ngược lại chủ trương của Đảng và Nhà nước về cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư. Vì thế cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên, xét bị cáo sau khi phạm đã thành khẩn khai báo, đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả xong, bị hại cũng có một phần lỗi và bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Nên xem đây là các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
[3] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Không có yêu cầu nên không xét.
[4] Về vật chứng: Là 01 con dao yếm mũi bằng, có chiều dài 40 cm; có cán bằng gỗ, tròn, chiều dài 13 cm; có lưỡi bằng kim loại màu đen, có một lưỡi sắc dài 27 cm, bản rộng nhất 6 cm, bản nhỏ nhất 3 cm, trọng lượng 0,4kg. Xét đây là công cụ phạm tội và bà V không yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu hủy.
[5] Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.
[6] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; Điều 47; các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 và Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; các Điều 106 và Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội: Cố ý gây thương tích.
- Phạt bị cáo Nguyễn Văn L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 01/8/2024.
- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Không có yêu cầu nên không xét.
- Về vật chứng:
- Án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu số tiền 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao yếm mũi bằng, có chiều dài 40 cm; có cán bằng gỗ, tròn, chiều dài 13 cm; có lưỡi bằng kim loại màu đen, có một lưỡi sắc, dài 27 cm, bản rộng nhất 06 cm, bản nhỏ nhất 03 cm, trọng lượng 0,4kg
(Vật chứng trên hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít đang quản lý, theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 02/10/2024).
Trường hợp bản án, quyết định, được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được quy định theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Báo cho biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại vắng mặt, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Trương Tấn Đồng |
Bản án số 75/2024/HS-ST ngày 04/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 75/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lợi
