Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2024/HS-ST

Ngày 31-10-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn Hưng và bà Nguyễn Thị Hải Yến

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Hùng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Loan- Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 69/2024/HSST ngày 18-10-2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn N, sinh năm 2004; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: khu A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị T, bị cáo là con duy nhất trong gia đình

- Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2023/HSST ngày 15/6/2023 của TAND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/11/2023, đã nộp án phí HSST và án phí DSST ngày 26/9/2023;

- Tiền sự: Ngày 25/7/2024, bị UBND huyện T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 2369/QĐ-UBND 6.500.000 đồng về hành vi “Cố ý gây tổn hại sức khỏe của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự”

- Nhân Thân:

Ngày 28/10/2019, bị Công an thị trấn T, huyện T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 08 cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản”

+ Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2021/HSST ngày 06/5/2021 của TAND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/12/2021 (khi phạm tội là người chưa thành niên).

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 09/8/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H đến nay, có mặt.

- Bị hại: Anh Phạm Văn P1, sinh năm 1995 và chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương. Anh P1, chị H có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

- Người làm chứng:

  • + Chị Phạm Thị H1, sinh năm 1977;
  • + Anh Phạm Văn P2, sinh năm 1973;
  • + Anh Dương Thế P3, sinh năm 2005;
  • + Anh Dương Văn T1, sinh năm 1980;
  • + Anh Bùi Văn Q, sinh năm 1990;
  • + Anh Đặng Văn T2, sinh năm 2002;
  • + Anh Nguyễn Thành D, sinh năm 2005;
  • + Cháu Nguyễn Ngọc N1, sinh ngày 21/02/2011;

Người giám hộ của cháu N1: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1950;

Những người làm chứng đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn N không có việc làm ổn định, do cần tiền chi tiêu nên khoảng 19 giờ ngày 28/7/2024, N điều khiển xe đạp mini, mầu sơn đỏ (xe mượn của cháu Nguyễn Ngọc N1- sinh năm 2011 ở Khu A, TT T, huyện T) đi một mình từ nhà đến thôn T, xã C mục đích tìm nhà nào sơ hở sẽ đột nhập để trộm cắp tài sản. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, N đi đến khu vực nhà anh Phạm Văn P1, sinh năm 1995, ở thôn T, xã C thấy cửa sổ phía sau nhà anh P1 đang mở, bên trong nhà có sáng điện nên dừng lại, dựng xe đạp ở đường rồi trèo qua tường bao vào vườn phía sau nhà anh P1. Nhanh quan sát qua cửa sổ vào phòng ngủ của gia đình anh P1 thấy bà Phạm Thị H1, sinh năm 1973 (là mẹ anh P1) ngồi trên giường đếm tiền sau đó cất vào trong một túi vải màu đỏ, đặt lên mặt bàn máy tính cạnh giường rồi đi ra khỏi phòng. Thấy vậy, N đi ra khu vực đầu nhà anh P1 tìm được 01 đoạn gậy tre dài khoảng 2,6 mét, 01 móc kim loại (móc phơi quần áo) rồi dùng tay duỗi thẳng móc và quấn cố định một đầu móc vào đầu gậy làm dụng cụ để trộm cắp tài sản. N trèo lên tường bao cạnh cửa sổ phòng ngủ, tay trái bám vào song cửa sổ, tay phải cầm gậy, đưa đầu có móc kim loại qua cửa sổ vào trong phòng ngủ, móc lấy túi vải đựng, bên trong có đựng tổng số tiền 5.100.000 đồng (gồm nhiều tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, 200.000 đồng và 500.000 đồng) trên mặt bàn máy tính, đưa ra cửa sổ. Lấy được túi vải đựng tiền, N bỏ vào túi quần bên phải đang mặc, vứt gậy có móc kim loại xuống vườn sau nhà anh P1, theo lối cũ trèo ra ngoài. Khi đi khỏi nhà anh P1 khoảng 50 mét, N cất tiền vào túi quần, vứt túi vải đựng tiền xuống mương nước ở cạnh đường rồi đi về nhà. Ngày 29/7/2024, N sử dụng 620.000 đồng để ăn lẩu tại quán “Trâu Ngon”, địa chỉ tại khu A, TT . T, huyện T và đưa cho Đặng Văn T2 2.400.000 đồng, nhờ T2 đưa số tiền trên cho Dương Thế P3 (để trả nợ P3 300.000 đồng và mua chiếc điện thoại Iphone 11 với giá 2.100.000 đồng). Ngày 30/7/2024, N trả nợ cho anh Dương Văn T1 1.500.000 đồng, số tiền còn lại Nhanh chi tiêu cá nhân hết. Ngày 31/7/2024, anh P1 có đơn trình báo đề nghị Công an huyện T. Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã xác minh, ngày 31/07/2024 triệu tập N đến làm việc. N đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản nhà anh P1 và tự nguyện giao nộp 01 xe đạp mini mầu đỏ, 01 điện thoại Iphone 11 màu trắng, lắp sim số 0928632447.

Tại kết luận định giá tài sản số 51 ngày 16 tháng 8 năm 2024 của Hội đồng định giá UBND huyện T kết luận: 01 túi vải mầu đỏ, kích thước khoảng (7x 10) cm, miệng túi có khoá kéo và nút bấm cố định. Tại thời điểm bị trộm cắp ngày 28/7/2024 tài sản cần định giá có giá trị là: 5.000 đồng

Tại bản Cáo trạng số: 70/CT-VKSTK ngày 16-10-2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự (BLHS).

Tại phiên toà: VKSND huyện Tứ Kỳ giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 BLHS. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt Nguyễn Văn N từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam; Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng 48 BLHS, Điều 128 BLTTHS; khoản 1 Điều 584; khoản 1 Điều 585; khoản 1 Điều 589; Điều 357, 468 BLDS 2015. Buộc bị cáo phải bồi thường cho vợ chồng anh Phạm Văn P1 và chị Nguyễn Thị H số tiền 5.105.000 đồng. Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu phát mại chiếc điện thoại Iphone 11 của Nguyễn Văn N để bồi thường cho bị hại, trường hợp còn thừa được trả lại, thiếu thì phải tiếp tục bồi thường; về xử lý vật chứng: phát mại chiếc điện thoại Iphone 11 để đảm bảo cho việc bồi thường thiệt hại; tịch thu tiêu hủy 01 sim điện thoại, 01 đoạn gậy tre, 01 đoạn kim loại; bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, công nhận quyết định truy tố và luận tội của VKSND huyện Tứ Kỳ đối với bị cáo là đúng và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại: anh Phạm Văn P1 và chị Nguyễn Thị H đề nghị giải quyết vắng mặt, yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền đã chiếm đoạt; Về trách nhiệm hình sự đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo trong giai đoạn điều tra phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, biên bản thực nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản, Khoảng 19 giờ 30 ngày 28/7/2024, tại phòng ngủ nhà của gia đình anh Phạm Văn P1 ở thôn T, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương. Nguyễn Văn N đã lén lút trộm cắp 01 túi vải bên trong có 5.100.000 đồng. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là trái pháp luật, nhưng do bản chất ham chơi, lười lao động vẫn cố ý thực hiện, tài sản mà bị cáo trộm cắp có tổng giá trị là 5.105.000 đồng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS. Như vậy, quyết định truy tố của VKSND huyện Tứ Kỳ đối với bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương, cần phải được xử lý theo quy định pháp luật.

[4] Xét tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, điều kiện nhân thân của bị cáo, thấy rằng: Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2023/HSST ngày 15/6/2023 của TAND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/11/2023, đã nộp án phí HSST và án phí DSST ngày 26/9/2023. Tuy đã chấp hành xong bản án nhưng chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Mặt khác bị cáo còn có 01 tiền sự thể hiện ngày 25/7/2024, bị UBND huyện T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý gây tổn hại sức khỏe của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự”. Ngày 28/10/2019, bị Công an thị trấn T, huyện T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” và ngày 06/5/2021 của TAND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Do tại thời điểm bị xử lý, bị cáo là người chưa thành niên nên không được coi là án tích, nhưng điều đó chứng tỏ bị cáo là người có nhân thân xấu. Tài liệu điều tra còn thể hiện trước đó Nguyễn Văn N còn thực hiện hành vi “Cố ý gây thương tích” và tội “Gây rối trật tự công cộng” trong vụ án khác đã được Cơ quan điều tra Công an huyện T khởi tố đối với N. Tuy nhiên hành vi xảy ra trước thì bị xét xử sau, hành vi xảy ra sau thì bị xét xử trước và bằng các vụ án độc lập nên Tòa án không thể tổng hợp hình phạt trong vụ án này.

[5] Xét quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, song dù có giảm nhẹ vẫn cần thiết buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để chấp hành hình phạt tù mới đủ tác dụng giáo dục riêng bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung trong xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi chiếm đoạt bị cáo đã sử dụng, chi tiêu cá nhân hết và chưa bồi thường cho bị hại. Vì vậy, cần buộc bị cáo phải bồi thường cho vợ chồng anh P1, chị H số tiền bị chiếm đoạt 5.105.000 đồng theo quy định Điều 48 BLHS, khoản 1 Điều 584; khoản 1 Điều 585; khoản 1 Điều 589; Điều 357, 468 BLDS 2015. Phát mại chiếc điện thoại Iphone 11 của Nguyễn Văn N để đảm bảo cho việc bồi thường. Trường hợp số tiền phát mại thừa thì được trả lại cho bị cáo, trường hợp phát mại để bồi thường nhưng không đủ bồi thường cho bị hại thì bị cáo phải tiếp tục bồi thường số tiền còn thiếu.

[8] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động Iphone 11 là do bị cáo sử dụng tiền trộm cắp mua được mà có, bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại nhưng chưa bồi thường. Vì vậy cần tịch thu phát mại để bồi thường cho bị hại. Đối với 01 sim điện thoại số 0928.632.xxx và 01 gậy tre, 01 đoạn kim loại (dạng móc quần áo) không còn giá trị nên cần tịch thu cho tiêu hủy. Đối với 01 chiếc xe đạp mini mà cháu Nguyễn Ngọc N1 cho mượn, cháu N1 không biết mục đích N bảo chở đi để trộm cắp tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho anh T3 là chủ sở hữu là phù hợp.

[9] Đối với anh Đặng Văn T2 được N nhờ đưa số tiền 2.400.000 đồng cho anh Dương Thế P3 (trả nợ cho anh P3 300.000 đồng và mua chiếc điện thoại Iphone 11), trả nợ cho anh Dương Văn T1 1.500.000 đồng. Anh T2, anh P3, anh T1 không biết đây là tiền do bị cáo phạm tội mà có nên không phải chịu trách nhiệm.

[10] Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về ...án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 BLHS.

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 09/8/2024.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 BLHS, khoản 1 Điều 584; khoản 1 Điều 585; Điều 587, Điều 589; Điều 357, Điều 468 BLDS. Buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải bồi thường cho vợ chồng anh Phạm Văn P1 và chị Nguyễn Thị H: địa chỉ: thôn T, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương tổng số tiền 5.105.000 đồng. Phát mại chiếc điện thoại Iphone 11 của Nguyễn Văn N để đảm bảo cho việc bồi thường. Trường hợp số tiền phát mại thừa thì được trả lại cho bị cáo, trường hợp phát mại để bồi thường không đủ để thực hiện nghĩa vụ bồi thường cho bị hại thì bị cáo phải tiếp tục bồi thường số tiền còn thiếu.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 và khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 128 của BLTTHS. Tịch thu phát mại 01 điện thoại Iphone 11, màu trắng của Nguyễn Văn N để đảm bảo cho việc bồi thường cho bị hại. Tịch thu cho tiêu huỷ 01 sim điện thoại số 0928.632.xxx và 01 gậy tre, 01 đoạn kim loại (dạng móc quần áo).

(Vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận giữa Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ ngày 22-10-2024).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về ...án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 BLTTHS. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương;
  • - VKSND huyện Tứ Kỳ;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ;
  • - Cơ quan THA hình sự- CA huyện Tứ Kỳ;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Công an huyện Tứ Kỳ;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

(Đã ký)

Nguyễn Văn Quân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2024/HS-ST ngày 31/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 75/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 19 giờ 30 ngày 28/7/2024, tại phòng ngủ nhà của gia đình anh Phạm Văn P ở thôn T, xã C, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương. Nguyễn Văn N đã lén lút trộm cắp 01 túi vải bên trong có 5.100.000 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger