Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 75/2024/DS -ST

Ngày 26/9/2024

V/v tranh chấp hợp đồng

chuyển nhượng quyền sử dụng đất

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Phương Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Ngô Thị Vân.
  2. Ông Nguyễn Văn Tư.

- Thư ký phiên toà: Ông Đặng Văn Hưng –Thư ký TAND thành phố Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Đĩnh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở TAND thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 160/2023/TLST-DS ngày 16/10/2023 về “Tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84A/2024/QĐXXST-DS ngày 08/08/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 96/2024/QÐST-DS ngày 29/08/2024, Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 972/TB-TA ngày 10/09/2024 giữa:

  1. Nguyên đơn: Ông Phạm Văn T-sinh năm 1963 và bà Phan Thị N-sinh năm 1965; Đều địa chỉ: Khu C, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
  2. Người đại diện theo uỷ quyền của ông T, bà N: Văn phòng luật sư Kim Vĩnh A-Đoàn luật sư tỉnh B do bà Nguyễn Thị L đại diện tham gia tố tụng; Địa chỉ: Số D đường X, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Bà L có mặt).

  3. Bị đơn: Ông Phạm Văn Q-sinh năm 1971 và bà Đỗ Thị X-sinh năm 1976; Đều địa chỉ: Thôn V, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
  4. (Ông Q và bà X xin vắng mặt)

  5. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
    1. UBND thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
    2. Người đại diện theo uỷ quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Thanh T1 – Trưởng phòng TN&MT thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Theo Quyết định uỷ quyền tham gia tố tụng vụ án dân sự số 2603/QĐ-UBND ngày 16/7/2024).

      (Ông T1 vắng mặt)

1

    1. UBND xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
    2. Người đại diện theo uỷ quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Văn T2 – Công chức tư pháp hộ tịch xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Theo Quyết định uỷ quyền tham gia tố tụng vụ án dân sự số 87/QĐ-UBND ngày 13/5/2024).

      (Ông T2 vắng mặt)

    3. Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang.
    4. Người đại diện theo uỷ quyền tham gia tố tụng: Ông Vũ Ngọc T3 – Chấp hành viên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang (Theo Văn bản uỷ quyền tham gia tố tụng số 302/TB-THADS ngày 01/3/2024).

      (Ông T3 vắng mặt)

    5. Ông Dương Văn C-sinh năm 1957, bà Nguyễn Thị B-sinh năm 1963, chị Dương Thị Hải V-sinh năm 1981; Đều địa chỉ: Số B, đường C, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
    6. (Ông C, bà B, chị V đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn ông Phạm Văn T, bà Phan Thị N và người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L thống nhất trình bày:

Ông T, bà N là anh ruột, chị dâu của ông Phạm Văn Q. Khoảng đầu tháng 02/2022, ông T, bà N biết vợ chồng ông Phạm Văn Q và vợ bà Đỗ Thị X có nhu cầu bán nhà đất tại Thôn V, xã S để trả nợ tiền chữa bệnh cho ông Q vì năm 2020 ông Q bị xuất huyết não phải mổ não, năm 2021 ông Q phải mổ khớp háng và chỏm đùi, ngoài ra còn phải thường xuyên điều trị bệnh tiểu đường và các tai biến sau mổ não. Sau một thời gian ông Q, bà X rao bán nhưng không có người mua nên ông Q, bà X có đặt vấn đề với ông T, bà N: nếu ông T, bà N mà mua thì ông Q, bà X sẽ để rẻ hơn một chút với giá cả nhà và đất là 400.000.000 đồng.

Ngày 15/6/2022, ông Q, bà X đã lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển nhượng thửa đất số 26, tờ bản đồ số 30, diện tích đất 204,0m² và tài sản gắn liền với đất cho ông T, bà N (Hợp đồng được UBND xã S chứng thực số 157, Quyển 01/2022-SCT/HĐ,GD ngày 15/6/202). Tuy nhiên, vì ông Q, bà X không có chỗ ở, hơn nữa lại là em ruột nên ông T, bà N vẫn cho ông Q, bà X mượn nhà đất để ở. Ông T, bà N cũng xác định nếu một năm mà ông Q, bà X làm ăn có tiền chuộc lại thì ông T, bà N sẽ cho chuộc lại quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo hợp đồng nêu trên, do vậy ông T, bà N chưa làm thủ tục sang tên chuyển nhượng.

Đến khoảng tháng 2-3/2023, ông T, bà N thấy vợ chồng ông Q không có khả năng chuộc lại nhà đất nên ông T, bà N có yêu cầu vợ chồng ông Q phải đi làm thủ tục sang tên thửa đất số 26 cho ông bà (vì khi ông T, bà N mua đất của vợ chồng ông Q có thoả thuận với nhau bên ngoài là vợ chồng ông Q phải có trách nhiệm làm thủ tục sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Ông T, bà N có nghe ông Q

2

nói là ông Q có đến Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai để làm thủ tục sang tên tuy nhiên do chưa hoàn thiện thủ tục trích đo lại hiện trạng thửa đất nên chưa làm được thủ tục sang tên được. Khi ông Q đến làm việc với Chi nhánh văn phòng Đ có văn bản giấy tờ gì hay không thì ông T, bà N không rõ.

Ông T, bà N khẳng định: việc mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa ông Q, bà X với vợ chồng ông bà tại Hợp đồng có số chứng thực 157, Quyển 01/2022 - SCT/HĐ,GD được UBND xã S, TP B chứng thực ngày 15/6/2022 đối thửa đất số 26, tờ bản đồ số 30, diện tích đất 204,0m² và tài sản gắn liền với đất tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số phát hành Số AB 187 625 là hoàn toàn hợp pháp. Sau khi ký kết hợp đồng chuyển nhượng, ông bà đã thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán tiền cho vợ chồng ông Q, bà X và hai bên đã tiến hành bàn giao đất trên thực địa, cùng toàn bộ giấy tờ về quyền sử dụng đất cho ông bà cất giữ. Tại thời điểm chuyển nhượng, nhà đất không có tranh chấp, không bị cầm cố, thế chấp, ông Q, bà X không phải thi hành Bản án, Quyết định nào của Tòa án hay bị cưỡng chế, kê biên để bảo đảm thi hành án, không thuộc trường hợp bị cấm chuyển nhượng, việc chuyển nhượng cũng không vi phạm quyền lợi của các thành viên trong gia đình của bên chuyển nhượng đất. Ông T, bà N không biết về khoản nợ tiền nào của vợ chồng ông Q, bà X đối với bất kỳ tổ chức, cá nhân nào. Thời điểm mua đất là vợ chồng ông bà là mua giúp vì ông Q bệnh tật cần số tiền lớn để chữa trị.

Vì những lý do nêu trên, ông T, bà N khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa bên chuyển nhượng ông Phạm Văn Q, bà Đỗ Thị X với bên nhận chuyển nhượng ông Phạm Văn T, bà Phan Thị N được UBND xã S chứng thực ngày 15/6/2022, số chứng thực 157, Quyển 01/2022-SCT/HĐ,GD có hiệu lực pháp luật; ông T, bà N có quyền làm thủ tục đăng ký sang tên quyền sử dụng đất tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với tài sản đã nhận chuyển nhượng là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền tại thửa đất số 26, tờ bản đồ số 30, địa chỉ thửa đất: Thôn V, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

Đối với yêu cầu độc lập của ông Dương Văn C về yêu cầu tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 15/6/2022 vô hiệu, quan điểm của ông T, bà N là không nhất trí. Trường hợp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 15/6/2022 vô hiệu, ông T, bà N không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, không yêu cầu ông Q, bà X phải bồi thường thiệt hại trong vụ án này.

Bị đơn ông Phạm Văn Q và bà Đỗ Thị X thống nhất trình bày:

Ông bà là chủ sử dụng thửa đất số 26, tờ bản đồ số 30, diện tích đất 204,0m² và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ thôn V, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Đất đã

3

được UBND thị xã B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 187625 ngày 15/10/2004 mang tên Phạm Văn Q, Đỗ Thị X.

Năm 2020, ông Q bị mắc bệnh xuất huyết não, phải đi phẫu thuật điều trị tại bệnh viện B1 dài ngày. Năm 2021, ông Q tiếp tục phải đi phẫu thuật khớp háng chỏm xương đùi tại Bệnh viện A1 và đồng thời phải điều trị bệnh tiểu đường. Thời điểm đó, kinh tế gia đình ông bà cũng gặp rất nhiều khó khăn vì việc chăn nuôi của gia đình cũng không mang lại hiệu quả. Vợ chồng ông bà không có cách nào khác ngoài việc bán nhà đất đang ở để lấy tiền chữa trị bệnh. Ông bà nhiều lần rao bán nhưng không có ai mua nên đến năm 2022, anh trai và chị dâu ông bà là ông T bà N đã đồng ý mua đất của ông bà.

Ngày 15/6/2022, vợ chồng ông bà đã chuyển nhượng thửa đất số 26, tờ bản đồ số 30, diện tích đất 204,0m² và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ thôn V, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang cho ông T, bà N. Việc chuyển nhượng có được lập Hợp đồng chuyển nhượng và có được UBND xã S chứng thực ngày 15/6/2022. Trị giá chuyển nhượng là 400.000.000 đồng.

Ông T, bà N đã chuyển đủ cho vợ chồng ông bà số tiền 400.000.000 đồng. Ông T, bà N là người trực tiếp giao tiền còn vợ ông bà là người trực tiếp nhận tiền. Tuy nhiên, vì ông bà không có chỗ ở, hơn nữa lại là anh em ruột nên vợ chồng ông T, bà N vẫn cho ông bà mượn nhà đất để ở. Ông T, bà N biết ông bà rất khó khăn về kinh tế, nên đồng ý sau này nếu vợ chồng ông bà có tiền mua lại nhà đất thì ông T, bà N sẽ cho vợ chồng ông bà mua lại nhà đất. Trên diện tích đất chuyển nhượng cho ông T, bà N có 01 nhà cấp 4, là tài sản trên đất là do vợ chồng ông bà xây dựng năm 1996.

Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng khoảng hơn 1 tuần, ông Q có đến Chi nhánh Đ để làm thủ tục sang tên nhà đất cho vợ chồng ông T đối thửa đất số 26 thì Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ có giải thích cần phải hoàn thiện thủ tục trích đo lại hiện trạng thửa đất thì mới làm được thủ tục sang tên được. Do vậy, ông Q đã mang hồ sơ về. Sau đó một thời gian, ông Q cũng có liên hệ với Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ để đề nghị trích đo hiện trạng thửa đất. Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ đã tiến hành đo đạc nhưng chỉ trao đổi lại là không xác định được ranh giới, mốc giới đối với thửa đất số 26 nên chưa làm thủ tục sang tên được. Khi ông Q đề nghị Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ trích đo và khi Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ thông báo kết quả cũng không có văn bản gì.

Nay, do ông Q phải thi hành án theo Bản án của Toà án nên ông T, bà N cũng không thể làm thủ tục sang tên tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ được. Ông T, bà N khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa bên chuyển nhượng ông Phạm Văn Q, bà Đỗ Thị X với bên nhận chuyển nhượng

4

ông Phạm Văn T, bà Phan Thị N được UBND xã S chứng thực ngày 15/6/2022, số chứng thực 157, Quyển 01/2022-SCT/HĐ,GD có hiệu lực pháp luật; ông T, bà N có quyền làm thủ tục đăng ký sang tên quyền sử dụng đất tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với tài sản đã nhận chuyển nhượng là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền tại thửa đất số 26, tờ bản đồ số 30, địa chỉ thửa đất: Thôn V, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Quan điểm của ông bà là đồng ý vì việc chuyển nhượng là có thật, có hợp đồng chuyển nhượng, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chứng thực hợp đồng chuyển nhượng, tại thời điểm chuyển nhượng ông bà chưa phải thi hành bản án nào. Đối với số tiền 400.000.000 đồng là tiền chuyển nhượng đất mà ông bà đã nhận từ ông T bà N, ông bà đã dùng để trả nợ cho những người cho ông bà vay tiền từ năm 2020 để ông Q đi chữa bệnh. Do vậy, khi bản án của Toà án về việc ông C, bà B, chị V khởi kiện yêu cầu ông trả tiền có hiệu lực pháp luật, ông không còn tiền để trả cho ông C, bà B, bà V.

Ông bà không có yêu cầu giải quyết hậu quả nếu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 15/6/2022 vô hiệu, không yêu cầu ông T, bà N phải bồi thường thiệt hại.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập ông Dương Văn C trình bày:

Năm 2021, ông, vợ ông (Nguyễn Thị B) và con ông (Dương Thị Hải V) có khởi kiện ông Phạm Văn Q tại Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Hiện nay, bản án đã có hiệu lực pháp luật, ông, bà B, chị V đã có đơn yêu cầu thi hành án.

Căn cứ Bản án số 49/2022/DSST ngày 21/9/2022 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang; Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự số 06/2023/QĐ-PT ngày 13/2/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang: ông Q phải trả cho bà Dương Thị Hải V số tiền 5.307.395.100 đồng, ông Q phải trả cho bà Nguyễn Thị B số tiền 3.963.826.500 đồng, ông Q phải trả cho ông số tiền 1.580.532.100 đồng.

Nay, ông T, bà N khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa bên chuyển nhượng ông Phạm Văn Q và vợ bà Đỗ Thị X với bên nhận chuyển nhượng ông Phạm Văn T và vợ bà Phan Thị N được UBND xã S chứng thực ngày 15/6/2022, số chứng thực 157, Quyển 01/2022-SCT/HĐ,GD có hiệu lực pháp luật; quan điểm của ông là không đồng ý vì khi ông Q, bà X chuyển nhượng đất cho ông T, bà N thì ông đã khởi kiện ông Q tại Toà án. Ông Q cố tình trốn tránh nghĩa vụ, tẩu tán tài sản. Ông có yêu cầu độc lập, yêu cầu Toà án tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày giữa bên chuyển nhượng ông Phạm Văn Q, bà Đỗ Thị X với bên nhận chuyển nhượng ông Phạm Văn T, bà

5

Phan Thị N được UBND xã S chứng thực ngày 15/6/2022, số chứng thực 157, Quyển 01/2022-SCT/HĐ vô hiệu.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị B, chị Dương Thị Hải V nhất trí với ý kiến, quan điểm ông Dương Văn C trình bày trong hồ sơ vụ án.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan UBND thành phố B trình bày:

Về việc cấp Giấy CNQSD đất cho ông Phạm Văn Q: Ngày 13/7/2003, ông Phạm Văn Q, bà Đỗ Thị X có Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất tại thửa đất số 30, tờ bản đồ số 26, diện tích 204,0m² (diện tích và số thửa đất do UBND xã S đo đạc chỉnh lý), phần diện tích này thuộc thửa đất số 262, tờ bản đồ số 30 bản đồ địa chính đo vẽ năm 1999 của xã S, tổng diện tích thửa đất là 4.714m². Ngày 15/7/2004, UBND xã S xác nhận Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất thửa đất với nội dung như sau: “Về hiện trạng sử dụng đất: Tờ 30, thửa 26 diện tích 204,0m²; Về nguồn gốc sử dụng đất: Bố mẹ được HTX cấp 1978 không giấy tờ cho con năm 1999; Về tình trạng tranh chấp, khiếu nại đất đai: Không có; Về quy hoạch sử dụng đất: Phù hợp quy hoạch. Đề nghị cấp diện tích 204,0m² là đất ở.” Ngày 15/10/2004, UBND thị xã B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB187625 cho ông Phạm Văn Q, bà Đỗ Thị X tại thửa đất số 26, tờ bản đồ số 30, diện tích 204,0m² đất ở tại nông thôn, địa chỉ thửa đất: Thôn V, xã S, thị xã B. Đối với việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB187625 cho ông Phạm Văn Q, bà Đỗ Thị X tại thửa đất số 26, tờ bản đồ số 30, diện tích 204,0m² đất ở tại nông thôn là đúng thẩm quyền, đúng trình tự quy định của pháp luật.

Về nội dung đề nghị xác định vị trí cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Theo kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất của ông Phạm Văn Q đang sử dụng đất tại thôn V, xã S do Công ty TNHH T5 thực hiện đo vẽ trên cơ sở ông Phạm Văn Q dẫn đạc đã xác định vị trí phần diện tích 204,0m² của thửa đất số 26, tờ bản đồ số 30 đã được UBND thị xã B cấp Giấy chứng nhận số AB187625. Căn cứ hồ sơ kê khai đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và kết quả đo đạc của Công ty TNHH T5 cho thấy: Vị trí phần đất đã được cấp Giấy chứng nhận 204,0m² như xác định của Công ty TNHH T5 là phù hợp.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan UBND xã S, thành phố B trình bày:

Về nguồn gốc của thửa đất chuyển nhượng: Ông Phạm Văn Q và bà Đỗ Thị X hiện đang sử dụng thửa đất số 26, tờ bản đồ số 30, diện tích đất 204,0m² tại địa chỉ thôn V, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Đất đã được UBND thị xã B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 187625 ngày 15/10/2004 mang tên Phạm Văn Q, Đỗ Thị X. Nguồn gốc thửa đất là do Hợp tác xã cấp cho bố mẹ ông Q từ năm 1978 (không có giấy tờ), đến khoản năm 1999 thì bố mẹ ông Q cho lại ông Q.

6

Ngày 15/6/2022, UBND xã S đã chứng thực Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 157, quyển số 01/2022, giữa bên chuyển nhượng là ông Phạm Văn Q và vợ bà Đỗ Thị X với bên nhận chuyển nhượng ông Phạm Văn T và vợ bà Phan Thị N đối với thửa đất số 26, tờ bản đồ số 30, diện tích đất 204,0m² tại thôn V, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

Tại thời điểm ký hợp đồng, ông Phạm Văn Q, bà Đỗ Thị X, ông Phạm Văn T, bà Phan Thị N có mặt đầy đủ. Nội dung Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất do các bên cùng thống nhất soạn thảo. Sau khi xem xét nội dung yêu cầu của công dân, công chức Tư pháp – Hộ tịch là bà Tống Thị M người tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ thấy: Hồ sơ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 157 có đủ điều các kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất được quy định tại khoản 1 Điều 188 của Luật Đất đai năm 2013; Tại thời điểm chứng thực hợp đồng giao dịch, công chức Tư pháp – Hộ tịch xã S đã kiểm tra hồ sơ nêu trên đầy đủ giấy tờ theo yêu cầu chứng thực do các bên xuất trình và tiến hành giải thích cho các bên hiểu rõ quyền, nghĩa vụ, ý nghĩa và hậu quả pháp lý của việc giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã chứng thực. Các bên cam kết chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, hợp pháp về giấy sở hữu tài sản, giấy tờ nhân thân và không yêu cầu người thực hiện chứng thực xác minh tình trạng về tài sản. Ông Q, bà X, ông T, bà N từng người một đã tự đọc lại toàn bộ nội dung dự thảo hợp đồng, hiểu rõ và đồng ý ký tên, điểm chỉ vào hợp đồng chuyển nhượng trước mặt công chức Tư pháp – Hộ tịch xã là bà Tống Thị M người tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ. Như vậy việc UBND xã S thực hiện chứng thực hợp đồng giao dịch đảm bảo các trình tự thủ tục theo quy định.

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc đề nghị công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyển nhượng ông Phạm Văn Q, bà Đỗ Thị X với bên nhận chuyển nhượng ông Phạm Văn T, bà Phan Thị N được UBND xã S chứng thực ngày 15/6/2022, số chứng thực 157, Quyển 01/2022-SCT/HĐ và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Dương Văn C về yêu cầu Toà án tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 15/6/2022 trên vô hiệu: Theo nội dung tranh chấp của các bên hiện tại không liên quan đến các điều kiện về hồ sơ và các trình tự thủ tục hành chính về chứng thực hợp đồng giao dịch. Do vậy, việc UBND xã S chứng thực hợp đồng là đảm bảo theo quy định.

Theo kết quả thẩm định tài sản, hiện nay ông Q, bà X đang sử dụng diện tích đất là 2640,8 m² (đã xây dựng nhiều công trình trên đất). So với diện tích đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hiện gia đình ông Q đang sử dụng tăng (thừa) 2436,8m². Diện tích đất 2436,8m² này ông Q, bà X là đất nông nghiệp chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. UBND xã S hiện không có ý kiến đối

7

với diện tích đất mà ông Q, bà X đang sử dụng mà chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang trình bày:

Căn cứ Bản án số 49/2022/DSST ngày 21/9/2022 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự số 06/2023/QĐ-PT ngày 13/2/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang; Ngày 09/5/2023, Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang đã có Quyết định thi hành án theo yêu cầu số 211/QĐ-CCTHADS ngày 09/5/2023 đối với đơn yêu cầu thi hành án của ông Dương Văn C-sinh năm 1975, bà Nguyễn Thị B-sinh năm 1963, chị Dương Thị Hải V-sinh năm 1981; Đều địa chỉ: Số B, đường C, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Thi hành án đối với ông Phạm Văn Q, sinh năm 1971, địa chỉ: Thôn V, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Các khoản phải thi hành:

  • Buộc ông Phạm Văn Q phải trả cho bà Dương Thị Hải V số tiền 5.307.395.100 đồng, trong đó tiền gốc là 1.922.820.000 đồng và tiền lãi là 3.314.575.100 đồng.
  • Buộc ông Phạm Văn Q phải trả cho bà Nguyễn Thị B số tiền 3.963.826.500 đồng, trong đó tiền gốc là 1.494.526.000 đồng và tiền lãi là 2.469.300.000 đồng.
  • Buộc ông Phạm Văn Q phải trả cho ông Dương Văn C số tiền 1.580.532.100 đồng, trong đó tiền gốc là 745.625.000 đồng và tiền lãi là 834.727.100 đồng.

Cùng ngày 09/5/2023, Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang đã có Quyết định thi hành án chủ động số 222/QĐ-CCTHADS, cho thì hành án đối với ông Phạm Văn Q. Các khoản phải thi hành: 118.851.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Sau khi ban hành các Quyết định thi hành án, Chi cục thi hành án đã tiến hành xác minh và được biết ông Q vợ tôi Đỗ Thị X là chủ sử dụng thửa đất số 26, tờ bản đồ số 30, diện tích đất 204,0m² và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ thôn V, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Đất đã được UBND thị xã B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 187625 ngày 15/10/2004 mang tên Phạm Văn Q, Đỗ Thị X. Quá trình thi hành án, ông Q trình bày thửa đất số 26, tờ bản đồ số 30, diện tích đất 204,0m² và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ thôn V, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang đã được vợ chồng ông Q chuyển nhượng cho ông Phạm Văn T, sinh năm 1963 và bà Phan Thị N, sinh năm 1965; Đều địa chỉ: Khu C, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (là anh trai và chị dâu ông Q) nhưng làm xong thủ tục sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do ông T và bà N đã nộp đơn khởi kiện tại Toà án nên Chi cục thi hành án đã tạm đình chỉ thi hành án đối với ông Q.

* Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành thu thập một số tài liệu, chứng cứ như sau:

8

Ngày 06/5/2024 và ngày 16/9/2024, Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, kết quả như sau:

* Kết quả thẩm định:

Diện tích theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Ông Phạm Văn Q, bà Đỗ Thị X được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất seri số AB 187625 do UBND thị xã B cấp ngày 15/10/2004 với tổng diện tích là 204,0 m², thuộc thửa đất số 26, tờ bản đồ số 30 (bản đồ đo vẽ năm 1998). Căn cứ theo hồ sơ tài liệu gồm bản đồ số và hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận của ông Q thì không xác định được vị trí thửa đất số 26, tờ bản đồ số 30 là vị trí cụ thể nào trên bản đồ (tài liệu do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố B cung cấp cho Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang ngày 21/3/2024 theo Công văn số 36/TA ngày 04/01/2024). Số liệu tọa độ trong hồ sơ kỹ thuật thửa đất kèm theo hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận ngày 11/10/2003 của ông Phạm Văn Q không đồng bộ với hệ tọa độ quốc gia VN-2000 (so sánh với hệ tọa độ HN-72 thì tọa độ trong Hồ sơ kỹ thuật bị thiếu số, trong bảng tọa độ X(m) - tọa độ X(m) đúng phải có 7 chữ số). Bởi vậy đơn vị đo đạc đã tiến hành đo đạc các điểm mốc ranh giới cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thực địa theo sự chỉ dẫn của chủ sử dụng đất là ông Phạm Văn Q, kết quả đo đạc phần diện tích theo sự chỉ dẫn của ông Phạm Văn Q là 204,0m², được giới hạn bởi các điểm A-B-C-D-A. Cụ thể:

  • + Vị trí điểm mốc A là gốc cây xoan, hơn 20 năm tuổi;
  • + Vị trí điểm mốc B là điểm sơn đỏ đánh dấu trên sân;
  • + Vị trí điểm mốc C là gốc cấy nhãn, hơn 20 năm tuổi;
  • + Vị trí điểm mốc D là gốc cấy sấu, hơn 20 năm tuổi.

Và có tọa độ và chiều dài cạnh thửa (tại Sơ đồ đo vẽ hiện trạng sử dụng đất) như sau:

Bảng kê tọa độ mốc giới cấp GCNQSD đất
theo chỉ dẫn của ông Phạm Văn Quý
Đỉnh mốc Tọa độ (m) Cạnh (m)
A X=2357692,59
Y=415693,36
8,09
B X=2357684,77
Y=415691,26
20,00
C X=2357674,01
Y=415674,40
13,00
D X=2357686,59
Y=415671,16
23,00
A X=2357692,59
Y=415693,36

9

Diện tích theo hiện trạng sử dụng đất: Căn cứ các công trình trên đất mà ông Q đã xây dựng và đang sử dụng, xác định diện tích đất theo hiện trạng đo đạc ngày 06/05/2024 của thửa đất là 2640,8 m² (tại Sơ đồ đo vẽ hiện trạng sử dụng đất), gồm các cạnh như sau:

Cạnh Chiều dài (m) Cạnh Chiều dài (m) Cạnh Chiều dài (m)
1 - 2 13,36 10 - 11 2,48 19 - 20 1,56
2 - 3 5,36 11 - 12 7,38 20 - 21 1,40
3 - 4 51,93 12 - 13 8,27 21 - 22 3,68
4 - 5 23,30 13 - 14 5,09 22 - 23 11,81
5 - 6 2,21 14 - 15 4,30 23 - 24 10,77
6 - 7 5,35 15 - 16 11,47 24 - 25 23,66
7 - 8 38,82 16 - 17 16,53 25 - 26 20,92
8 - 9 8,41 17 - 18 3,12 26 - 27 20,89
9 - 10 2,34 18 - 19 4,09 27 - 1 7,06

Các tài sản, công trình xây dựng trên đất gồm có: 01 công trình nhà ở cấp 4, diện tích 61,2 m² (trong đó có: 57,5 m² nằm trong ranh giới cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; 3,7 m² nằm ngoài ranh giới cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất); 01 công trình phụ, diện tích 60,7 m² (toàn bộ 60,7 m² nằm trong ranh giới cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất); 01 công trình nhà bếp, diện tích 32,5 m² (trong đó có: 14,4 m² nằm trong ranh giới cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; 18,1 m² nằm ngoài ranh giới cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất); 01 sân bê tông, diện tích 53,0 m²; 01 công trình nhà ở 02 tầng, đổ trần bê tông, diện tích 128,5 m² (toàn bộ 128,5 m² nhà nằm ngoài ranh giới cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất); 01 trại chăn nuôi gà, có diện tích là 639,2 m² (toàn bộ 639,2 m² nằm ngoài ranh giới cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).

* Kết quả định giá:

Trị giá đất: Trị giá đất tại thửa đất số 26, tờ bản đồ số 30 tại thôn V, xã S áp vị trí 1, khu vực 2 xã nhóm B, đất ở nông thôn theo quy định tại bảng giá Quyết định số 72/2021/QĐ-UBND ngày 21/12/2021 của UBND tỉnh B là 1.400.000đồng/m²x204m²=285.600.000 đồng. Trị giá đất chuyển nhượng tại địa phương là 3.000.000đồng/m²x204m²=612.000.000 đồng.

Trị giá tài sản trên đất:

  • 01 nhà cấp 4 loại 2, còn 30% trị giá 2.850.000đ/m².
  • 01 nhà vệ sinh loại C, còn 30% trị giá 420.000đ/m².
  • 01 nhà bếp loại C, còn 30% trị giá 940.000đ/m².
  • 01 sân bê tông hết giá trị khấu hao.

* Tại Biên bản làm việc ngày 26/9/2024, ông Phạm Văn C1 cung cấp: Ông sống cùng thôn V với ông Q, bà X. Cách đây khoảng 2 năm, ông có nghe ông Q nói

10

chuyện về việc ông Q bệnh tật, vay mượn tiền của nhiều người để đi chữa bệnh nên phải bán nhà đất để trả nợ. Ông Q nói đã rao bán nhưng không ai mua nên anh trai ông Q là ông T đồng ý mua đất của ông Q, bà X để ông Q có tiền chữa bệnh. Do là anh em trong gia đình nên ông T, bà N vẫn cho ông Q mượn nhà đất để ở. Ông chỉ nghe ông Q nói chuyện với ông như vậy từ 2 năm trước còn cụ thể việc mua bán như nào thì ông không rõ.

* Tại Biên bản làm việc ngày 26/9/2024, ông Đỗ Văn T4 cung cấp: Ông và ông Q là anh em quen biết ngoài xã hội, không có quan hệ ruột thịt gì. Năm 2020 (cụ thể ngày tháng năm ông không nhớ), ông Q có hỏi vay ông số tiền 300.000,000 đồng để đi chữa bệnh u não, phải phẫu thuật. Do quen biết ông Q lâu và biết rõ hoàn cảnh bệnh tật của ông Q, ông đồng ý cho ông Q vay 300.000.000 đồng. Đến giữa năm 2022, ông Q đã trả ông đủ số tiền 300.000.000 đồng đã vay.

* Tại Biên bản làm việc ngày 26/9/2024, ông Đỗ Văn L1 cung cấp: Ông là cậu bên đằng vợ ông Q. Năm 2020, ông Q cần tiền gấp đi chữa bệnh nên đã hỏi vay ông 80.000.000 đồng. Do là họ hàng và biết hoàn cảnh ông Q rất khó khăn nên ông có cho ông Q vay 80.000.000 đồng. Khi cho vay, ông có nói rõ là sau khi bệnh tật ổn định phải thu xếp trả tiền ông. Đến giữa năm 2022, ông Q đã trả ông đủ số tiền 80.000.000 đồng đã vay.

* Tại Biên bản làm việc ngày 26/9/2024, ông Đỗ Văn D cung cấp: Ông là anh vợ ông Q, anh trai bà X. Năm 2020, ông Q bị u não, phải phẫu thuật và điều trị một thời gian tại bệnh viện N1. Khi đó, vợ chồng ông Q gặp khó khăn về kinh tế, không đủ tiền đi chữa bệnh nên có hỏi vay tiền ông. Ông óc cho ông Q vay 50.000.000 đồng để đi chữa bệnh. Đến giữa năm 2022, khi ôgn cần tiền xây nhà thì ông Q đã trả ông đủ số tiền 50.000.000 đồng đã vay.

* Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, phiên đối chất, hòa giải nhưng các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

* Tại phiên tòa ngày 29/08/2024, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị hoãn phiên toà, một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa.

* Tại phiên tòa hôm nay:

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa bên chuyển nhượng ông Phạm Văn Q, bà Đỗ Thị X với bên nhận chuyển nhượng ông Phạm Văn T, bà Phan Thị N được UBND xã S chứng thực ngày 15/6/2022, số chứng thực 157, Quyển 01/2022-SCT/HĐ,GD có hiệu lực pháp luật. Nguyên đơn không đồng ý yêu cầu độc lập của ông Dương Văn C. Nguyên đơn không có ý kiến gì đối với các kết quả đo đạc, thẩm định, xác định diện tích 204,0 m² mà nguyên đơn nhận chuyển nhượng của bị đơn chính là thửa đất có diện tích 204,0m² (được giới hạn bởi các điểm A-B-C-D-A thể hiện tại sơ đồ đo

11

vẽ). Đối với các tài sản trên đất, nếu yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Toà án chấp nhận, nguyên đơn sẽ sự thoả thuận giải quyết với bị đơn về việc bàn giao đất, các tài sản trên đất, không đề nghị Toà án xem xét giải quyết trong vụ án này.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

  • Về việc tuân theo pháp luật: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng quy định pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn cơ bản chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; một số người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự 2015, Luật đất đai năm 2013, Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
    • + Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa bên chuyển nhượng ông Phạm Văn Q, bà Đỗ Thị X với bên nhận chuyển nhượng ông Phạm Văn T, bà Phan Thị N được UBND xã S chứng thực ngày 15/6/2022, số chứng thực 157, Quyển 01/2022-SCT/HĐ,GD có hiệu lực pháp luật.
    • + Không chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Dương Văn C về yêu cầu tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa bên chuyển nhượng ông Phạm Văn Q, bà Đỗ Thị X với bên nhận chuyển nhượng ông Phạm Văn T, bà Phan Thị N được UBND xã S chứng thực ngày 15/6/2022, số chứng thực 157, Quyển 01/2022-SCT/HĐ,GD vô hiệu.
  • Về chi phí tố tụng, về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng.

[1.1] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng:

Ông Phạm Văn Q, bà Đỗ Thị X, UBND thành phố B, UBND xã S, Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, bà Nguyễn Thị B, chị Dương Thị Hải V xin vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục vắng mặt đối với những người trên.

[1.2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án:

Nguyên đơn yêu cầu Tòa án công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất có hiệu lực pháp luật. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Dương Văn C có yêu cầu độc lập, yêu cầu Toà án tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất vô hiệu. Do vậy, cần xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”

12

theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Q, bà X cư trú trên địa bàn thành phố B nên tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa bên chuyển nhượng ông Phạm Văn Q và bà Đỗ Thị X với bên nhận chuyển nhượng ông Phạm Văn T và bà Phan Thị N được UBND xã S chứng thực ngày 15/6/2022, số chứng thực 157, Quyển 01/2022-SCT/HĐ,GD có hiệu lực pháp luật.

[2.1] Về hình thức của hợp đồng:

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 15/6/2022 được lập thành văn bản, được chứng thực tại UBND xã S là đảm bảo quy định về hình thức hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 1 Điều 502 Bộ luật dân sự và theo điểm a khoản 3 Điều 167 Luật đất đai 2013.

[2.2] Về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định quyền sử dụng 204,0m² đất và các tài sản gắn liền với đất của thửa đất số 26, tờ bản đồ số 30 có địa chỉ tại V, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Phạm Văn Q và bà Đỗ Thị X. Đất đã được UBND thị xã B (nay là thành phố B) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 187625 ngày 15/10/2004 mang tên Phạm Văn Q, Đỗ Thị X.

Ngày 15/6/2022, ông Q, bà X chuyển nhượng quyền sử dụng 204,0m² đất và các tài sản gắn liền với đất cho ông Phạm Văn T và bà Phan Thị N. Khi giao kết hợp đồng, các đương sự hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc, cưỡng ép ký hợp đồng, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên đảm bảo quy định về chủ thể giao kết hợp đồng quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 117 của Bộ luật dân sự. Tại thời điểm chuyển nhượng, nhà đất không có tranh chấp, không bị cầm cố, thế chấp; ông Q, bà X không phải thi hành Bản án, Quyết định nào của Tòa án hay bị cưỡng chế, kê biên để bảo đảm thi hành án, không thuộc trường hợp bị cấm chuyển nhượng việc chuyển nhượng cũng không vi phạm quyền lợi của các thành viên trong gia đình của bên chuyển nhượng đất.

Sau khi ký kết hợp đồng chuyển nhượng, ông T, bà N đã thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán tiền cho vợ chồng ông Q, bà X. Ông Q, bà X đã bàn giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T, bà N. Do ông Q, bà X chưa có nơi ở khác nên vẫn được ông T, bà N cho mượn nhà đất để sử dụng. Việc ông T, bà N cho ông Q, bà X mượn nhà đất để sử dụng có xác nhận của người dân sinh sống cùng thôn. Ông T, bà N không đề nghị giải quyết gì về việc yêu cầu ông Q, bà X phải bàn giao nhà đất trong vụ án này nên Toà án không đặt ra xem xét giải quyết.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Dương Văn C trình bày việc ông Q, bà X chuyển nhượng nhà đất cho ông T bà N là cố tình trốn tránh nghĩa vụ, tẩu

13

tán tài sản vì năm 2021, ông C, bà B, chị V đã khởi kiện đòi tiền ông Q tại Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang. Hội đồng xét xử nhận thấy vụ án ông C, bà B, chị V khởi kiện đòi tiền ông Phạm Văn Q được Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang giải quyết bằng Bản án số 49/2022/DSST ngày 21/9/2022 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang và Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự số 06/2023/QĐ-PT ngày 13/2/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang. Như vậy, khi ông Q, bà X chuyển nhượng nhà đất cho ông T, bà N (ngày 15/6/2022) thì vụ án chưa được giải quyết xong, đến ngày 13/2/2023, bản án mới có hiệu lực pháp luật.

Căn cứ kết quả xét xử, ông Q phải trả cho bà Dương Thị Hải V số tiền 5.307.395.100 đồng, ông Q phải trả cho bà Nguyễn Thị B số tiền 3.963.826.500 đồng, ông Q phải trả cho ông (C) số tiền 1.580.532.100 đồng. Ông Q, bà X sau khi chuyển nhượng nhà đất có được số tiền 400.000.000 đồng nhưng do từ năm 2020 đến nay, ông Q bệnh tật thường xuyên (ông Q xuất trình được các giấy tờ chứng minh năm 2020, ông Q bị mắc bệnh xuất huyết não, phải phẫu thuật, điều trị tại bệnh viện B1 dài ngày; năm 2021, ông Q tiếp tục phải đi phẫu thuật khớp háng chỏm xương đùi tại Bệnh viện A1; Từ năm 2022 đến nay, ông Q đang điều trị bệnh ung thư thực quản), nhiều lần phải vay mượn bạn bè, người thân tiền để đi chữa bệnh nên khi có tiền bán đất đã trả nợ những người này. Thời điểm ông Q bà X được nhận số tiền bán đất 400.000.000 đồng thì bản án mà ông C, bà B, chị V khởi kiện đòi tiền ông Q cũng chưa có hiệu lực pháp luật.

Từ những nhận định trên, nhận thấy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa bên chuyển nhượng ông Phạm Văn Q và bà Đỗ Thị X với bên nhận chuyển nhượng ông Phạm Văn T và bà Phan Thị N được UBND xã S chứng thực ngày 15/6/2022, số chứng thực 157, Quyển 01/2022-SCT/HĐ,GD đảm bảo các quy định về điều kiện có hiệu lực pháp luật của hợp đồng theo quy định tại Điều 117 của Bộ luật Dân sự. Do vậy có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[3] Về yêu cầu độc lập của ông Dương Văn C:

Do có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa bên chuyển nhượng ông Phạm Văn Q và vợ bà Đỗ Thị X với bên nhận chuyển nhượng ông Phạm Văn T và vợ bà Phan Thị N được UBND xã S chứng thực ngày 15/6/2022, số chứng thực 157, Quyển 01/2022-SCT/HĐ,GD có hiệu lực pháp luật nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Dương Văn C vê tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên vô hiệu;

[4] Về chi phí tố tụng:

Tổng chi phí thẩm định, định giá tài sản là 9.000.000 đồng (bao gồm 6.000.000 đồng là chi phí thẩm định tại chỗ tài sản và 3.000.000 đồng là chi phí định giá tài sản). Căn cứ Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166 của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí thẩm định, định giá tài

14

sản do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận. Xác nhận nguyên đơn đã nộp đủ số tiền thẩm định, định giá tài sản là 9.000.000 đồng. Nguyên đơn được nhận lại số tiền 9.000.000 đồng khi bị đơn nộp lại.

[5] Về án phí:

Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị đơn phải chịu án phí không có giá ngạch là 300.000 đồng đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận. Hoàn trả nguyên đơn bà Phan Thị N số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Căn cứ Điều 117, khoản 1 Điều 502 Bộ luật dân sự; theo khoản 1 điểm a khoản 3 Điều 167 Luật đất đai 2013;

Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa bên chuyển nhượng ông Phạm Văn Q và bà Đỗ Thị X với bên nhận chuyển nhượng ông Phạm Văn T và bà Phan Thị N đối với thửa đất số 26, tờ bản đồ số 30, địa chỉ: thôn V, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang được UBND xã S chứng thực ngày 15/6/2022, số chứng thực 157, Quyển 01/2022-SCT/HĐ,GD có hiệu lực pháp luật (Có sơ đồ thửa đất kèm theo).
  2. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Dương Văn C về yêu cầu tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa bên chuyển nhượng ông Phạm Văn Q và bà Đỗ Thị X với bên nhận chuyển nhượng ông Phạm Văn T và bà Phan Thị N đối với thửa đất số 26, tờ bản đồ số 30, địa chỉ: thôn V, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang được UBND xã S chứng thực ngày 15/6/2022, số chứng thực 157, Quyển 01/2022-SCT/HĐ,GD vô hiệu.
  3. Về chi phí tố tụng: Ông Q, bà X phải chịu 9.000.000 đồng là chi phí thẩm định, định giá tài sản. Ông T, bà N được nhận lại số tiền 9.000.000 đồng khi ông Q, bà X nộp lại.
  4. Về án phí: Ông Q, bà X phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả nguyên đơn bà Phan Thị N số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp

15

theo biên lai số 0000141 ngày 16/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang.

  1. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
  2. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Bắc Giang;
  • - CCTHADS TP. Bắc Giang;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Phương Thảo

16

17

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2024/DS-ST ngày 26/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 75/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn T- Phạm Văn Q Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger