|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 75/2024/HS-ST Ngày: 11/9/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU - TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Văn Năm.
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Hoàng Quang Phong
Ông Nguyễn Văn Bẩy
Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Hùng - Thư ký tòa án nhân dân thị xã Đông Triều.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Hường – Kiểm sát viên.
Ngày 11/09/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 65/2024/HS-ST ngày 21/8/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2024/QĐXXST-HS ngày 28/8/2024 đối với hai bị cáo:
Bị cáo Lâm Như T - Tên gọi khác: không; sinh ngày: 27/3/1984 tại tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: thôn H, xã H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động phổ thông; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Hoa; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Đình S và bà Âu Thị L; bị cáo đã ly hôn, có một con sinh 2010; tiền án: Ngày 14/6/2007, Tòa án nhân dân thị xã Uông Bí xử phạt 27 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, quy định tại khoản 2 Điều 143 Bộ luật Hình sự năm 1999; chưa thi hành phần bồi thường dân sự cho người bị hại số tiền 8.000.000 đồng; Ngày 02/10/2015, Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí xử phạt 07 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/6/2022; Ngày 13/12/2022, Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/3/2024. Tiền sự: Chưa. Nhân thân: Ngày 31/01/2005, Tòa án nhân dân thị xã Uông Bí xử phạt 12 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”; Ngày 16/4/2010, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/10/2012; Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ ngày 02/6/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; có mặt tại phiên tòa.
Bị cáo Trương Công M - Tên gọi khác: không; sinh ngày: 04/02/1986 tại thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: tổ A A; khu E A, phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động phổ thông; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Công T1 và bà Nguyễn Thị H; đã ly hôn, có một con sinh 2015; tiền án: không; Tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 04/4/2013, Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí xử phạt 24 tháng tù, về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp và tạm giữ ngày 02/6/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Đ; có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng: Nguyễn Thế H1, sinh năm 1995; địa chỉ: khu E A, phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt tại phiên tòa.
Người chứng kiến:
- Ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1984; địa chỉ: thôn L, xã H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.
- Anh Mạc Thành D, sinh năm 1995; địa chỉ: thôn L, xã H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trương Công M và Lâm Như T có quan hệ là bạn và đều sử dụng ma túy. Khoảng 13 giờ ngày 02/6/2024, M nhắn tin qua ứng dụng Zalo cho T nhờ mua hộ 01 (một) túi ma túy loại Methamphetamine, với số tiền là 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) để sử dụng. T đồng ý và nhắn tin cho M số tài khoản của T là 19072751845016, mở tại Ngân hàng T2 để M chuyển tiền. M đã đi ra cửa hàng của anh Nguyễn Thế H1 ở khu vực cổng Bệnh viện V - Thụy Điển thuộc phường T, thành phố U, nhờ anh H1 chuyển giúp vào tài khoản của T số tiền 500.000 đồng.
Sau khi nhận được tiền, T đi sang khu vực huyện T, thành phố Hải Phòng, gặp và mua của một người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) 01 (một) túi nilon kích thước (02x02)cm chứa ma túy, với giá 500.000 đồng (mua hộ M) và 01(một) túi nilon kích thước (03x05)cm chứa ma túy, với giá 700.000 đồng (Toán mua để sử dụng cho bản thân), rồi cất giấu 02 (hai) túi ma túy vào trong túi quần phía trước bên trái đang mặc và đón xe ôm đi về. Đến khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, T đi đến đoạn đường dân sinh thuộc thôn L, xã H, thị xã Đ, để tìm chỗ sử dụng ma túy, thì bị Tổ công tác của Công an thị xã Đ phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trong túi quần phía trước bên trái của T đang mặc 01 (một) túi nilon kích thước (02x02)cm chứa chất tinh thể màu trắng (kí hiệu M1) và 01 (một) túi nilon kích thước (03x05)cm chứa chất tinh thể màu trắng (kí hiệu M2). Ngoài ra, còn tạm giữ của T 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, gắn sim số 0976.252.395 và 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Joy 3, gắn sim số 0326.675.373.
Căn cứ tài liệu điều tra, cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đ ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Trương Công M, tạm giữ của M: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy S7 Edge, gắn sim số 0969.689.965.
Tại bản Kết luận giám định số 823 ngày 07/6/2024, của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu vật kí hiệu M1, M2 gửi giám định đều là ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng như sau: M1 = 0,226 gam (Không phẩy hai hai sáu gam); M2 = 0,456 gam (không phẩy bốn năm sáu gam). Tổng khối lượng ma túy đã thu giữ của Lâm Như T là 0,682 gam (không phẩy sáu tám hai gam). Tại phiên tòa Lâm Như T và Trương Công M đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Người làm chứng là anh Nguyễn Thế H1 có lời khai thừa nhận đã giúp Trương Công M chuyển khoản số tiền 500.000 đồng cho Lâm Như T, nhưng anh H1 không biết M chuyển tiền để mua ma túy và cũng không có hứa hẹn lợi ích gì. Những người chứng kiến gồm ông Nguyễn Văn L1 và anh Mạc Thành D cùng có lời khai xác nhận việc chứng kiến cơ quan điều tra bắt quả tang và thu giữ 02 túi ma túy và các đồ vật như trên bị cáo T.
Tại cáo trạng số 1626CT-VKSĐT ngày 20/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều truy tố bị cáo Lâm Như T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Trương Công M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự
Đại diện Viện kiểm sát căn cứ khoản điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Lâm Như T từ 06 (S1) năm tù đến 06 (sáu) năm 06(sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; thời hạn tù kể từ ngày bắt giữ (02/6/2024).
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Trương Công M từ 18 (Mười tám) tháng tù đến 21 (Hai mốt) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù kể từ ngày bắt giữ (02/6/2024).
Về vật chứng: căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự,
Tịch thu tiêu hủy phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định số 823/KL- KTHS ngày 07/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q
Tịch thu phát mại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Joy 3, màu tím, đã qua sử dụng, găn sim số 0326.675.373 thu giữ của T và 01 điện thoại hiệu S2 S7 Edge, màu vàng, đã qua sử dụng, gắn sim số 0326.689.965 thu giữ của M.
Trả lại bị cáo T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu trắng, đã qua sử dụng, gắn sim 0976252395.
Các bị cáo tranh luận đồng tình với luận tội của Đại diện Viện kiểm sát.
Thực hiện quyền nói lời sau cùng, hai bị cáo nhận tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra, truy tố và xét xử đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; không bị khiếu nại, tố cáo nên được Hội đồng xét xử đánh giá là hợp pháp. Những chứng cứ, tài liệu do cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập cũng như do người tham gia tố tụng cung cấp bảo đảm đúng quy định theo Bộ luật Tố tụng hình sự, được Hội đồng xét xử đánh giá là hợp pháp.
[2] Hành vi phạm tội của hai bị cáo như sau: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 02/6/2024, tại đoạn đường dân sinh thuộc thôn L, xã H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, Công an thị xã Đ bắt quả tang Lâm Như T có hành vi tàng trữ trái phép 0,682 gam (không phẩy sáu tám hai gam) ma túy Methamphetamine, trong đó có 0,226 gam (Không phẩy hai hai sáu gam) ma túy M1 là T mua giúp cho Trương Công M với số tiền 500.000 đồng, để M sử dụng.
[3] Hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng của hai bị cáo Lâm Như T và Trương Công M là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước. Hai bị cáo là người thành niên, có đủ khả năng nhận thức, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật vẫn cố tình thực hiện. Lâm Như T đã thực hiện hành vi phạm tội khi ngay trước đó đã tái phạm, chưa được xóa án tích lại phạm tội mới nên lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. bị cáo M phải chịu trách nhiệm với toàn bộ số ma túy mà bị cáo tàng trữ bao gồm cả lượng ma túy mua giúp M là 0,682 gam ma túy methamphetamine; bị cáo M phải chịu trách nhiệm với 0,226 gam ma túy Methamphetamine mà M đã gửi tiền nhờ T mua giúp. Vì vậy, đối chiếu với các yếu tố cấu thành tội phạm đủ căn cứ khẳng định Lâm Như T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự và Trương Công M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[4] Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị áp dụng điều luật cũng như mức hình phạt đối với bị cáo; Hội đồng xét xử đánh giá cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều là có căn cứ, đúng pháp luật. Hội đồng xét xử chấp nhận phân tích đánh giá trong luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Hai bị cáo nhận tội; lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác như biên bản bắt người phạm tội quả tang; kết luận giám định, sơ đồ hiện trường, biên bản khám xét nên hai bị cáo được đánh giá là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
[5] Đây là vụ án đồng phạm giản đơn; bị cáo Lâm Như T là người trực tiếp đi mua ma túy cho bản thân và còn mua giúp cho M nên giữ vai trò chính; bị cáo Trương Công M chịu trách nhiệm đồng phạm với T đối với số mà túy mà M đã nhờ T mua và thực tế T đã mua nên giữ vai trò sau Toán.
[6] Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ: Hai bị cáo Lâm Như T và Trương Công M thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[7] Về tình tiết tăng nặng: Hai bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nhưng cả hai đề có nhân thân xấu liên quan đến cac vi phạm pháp luật về ma túy
[8] Sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước và gây mất an ninh trật tự nên cần phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình nghị án, Hội đồng xét xử cũng xem giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của nhà nước và pháp luật.
[9] Vật chứng vụ án: Cần tịch thu tiêu hủy phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định số 823/KL- KTHS ngày 07/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q; tịch thu phát mại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Joy 3, màu tím, đã qua sử dụng, gắn sim số 0326.675.373 thu giữ của T và 01 điện thoại hiệu S2 S7 Edge, màu vàng, đã qua sử dụng, gắn sim số 0326.689.965 thu giữ của M và trả lại bị cáo T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu trắng, đã qua sử dụng, gắn sim 0976252395.
[10] Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định người phạm tội có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng; xét thấy các bị cáo không có tài sản, công việc và thu nhập ổn định nên không áp dụng.
[11] Đối với người đã bán ma túy cho T quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ, nên không có căn cứ để xử lý. Đối với anh Nguyễn Thế H1 là người đã giúp Trương Công M chuyển khoản số tiền 500.000 đồng cho Lâm Như T, nhưng anh H1 không biết M chuyển tiền để mua ma túy nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.
[12] Các bị cáo có quyền kháng cáo trong phạm vi và thời hạn luật định.
[13] Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: bị cáo Lâm Như T 06 (S1) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; thời hạn tù kể từ ngày bắt giữ (02/6/2024).
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: bị cáo Trương Công M 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù kể từ ngày bắt giữ (02/6/2024).
Về vật chứng:
Áp dụng: khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,
Tịch thu tiêu hủy phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định số 823/KL- KTHS ngày 07/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q
Tịch thu phát mại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Joy 3, màu tím, đã qua sử dụng, gắn sim số 0326.675.373 thu giữ của T và 01 điện thoại hiệu S2 S7 Edge, màu vàng, đã qua sử dụng, gắn sim số 0326.689.965 thu giữ của M.
Trả lại bị cáo T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu trắng, đã qua sử dụng, gắn sim 0976252395.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận giữa cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự số 104 ngày 21/8/2024)
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Lâm Như T và Trương Công M, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 332; khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Văn Năm |
Bản án số 75/2024/HS-ST ngày 11/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU - TỈNH QUẢNG NINH về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 75/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU - TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lâm Như T cùng đồng phạm bị truy tố về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
