|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 75/2024/HS-ST Ngày 04 tháng 9 năm 2024 |
Châu. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Hằng Hải.
Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Hòa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Thắng
Bà Vũ Thị Huyền
Bà Hà Thị Nở
Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hải Yến - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 81/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Lò Văn D; sinh năm 1983; nơi sinh: huyện S, tỉnh Lai Châu; nơi cư trú: bản N, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: cán bộ bán chuyên trách; chức vụ trước khi thực hiện hành vi phạm tội: Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã N; là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hiện đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Lò Văn S (sinh năm 1958) và bà Lò Thị H (sinh năm 1958); có vợ là Lò Thị S1 (sinh năm 1985) và 03 con (con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2012); tiền án: không; tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06/4/2023 đến ngày
06/12/2023. Từ ngày 20/02/2024 bị cáo bị bắt, tạm giam cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại:
- Ông Lò Văn H1, sinh năm 1989 (Có mặt)
Trú tại: Bản N, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu.
* Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn D: Ông Nguyễn Chí Đ – Luật sư thuộc Công ty L. Địa chỉ: Số F đường P, phường X, quận N, thành phố Hà Nội. (Có mặt)
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại Lò Văn H1: Ông Lò Văn H2 – Luật sư thuộc Công ty L1. Địa chỉ: Tổ B, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lai Châu (Có mặt)
* Người làm chứng:
- Chị Lò Thị K, sinh năm 1998. (Có mặt)
- Cháu Lò Quang T, sinh năm 2015.(Vắng mặt có lý do)
Người đại diện hợp pháp của cháu Lò Quang T là anh Lò Văn H1, sinh năm 1989 (bố đẻ) và chị Lò Thị K, sinh năm 1998 (mẹ đẻ).
Cùng địa chỉ: Bản N, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu.
- Chị Lò Thị D1, sinh năm 2000. (Có mặt)
- Chị Lò Thị S1, sinh năm 1985. (Có mặt)
- Bà Lò Thị H, sinh năm 1958. (Có mặt)
Cùng địa chỉ: Bản N, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu.
* Người phiên dịch cho bà Lò Thị H: Ông Lò Xuân Q, sinh năm 2003. Địa chỉ: Huyện T, tỉnh Lai Châu (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mâu thuẫn nhỏ với nhau từ trước, chiều ngày 27/01/2023, trên đường đi ngang qua nhà anh Lò Văn H1, bị cáo Lò Văn D đứng ngoài đường khiêu khích, thách thức anh H1 đánh nhau với mình. Dươi nói “Giữa tao với mày không thù oán gì, lúc nào mày cũng muốn chém, muốn giết tao, có giỏi thì
xuống đây đánh nhau với tao”. Sau đó được mọi người can ngăn nên D đi về nhà. Khi về đến nhà, D vào trong bếp lấy một con dao nhọn (dài 30 cm, trong đó phần cán bằng gỗ dài 10 cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 20 cm) đựng trong vỏ bao làm bằng mảnh bì carton (bìa hộp mì tôm) cho vào túi quần bên phải, rồi đi xe máy lên lán nương nhà mình tìm trâu. Khi ra khỏi nhà D gặp chị Lò Thị S1 và chị Lò Thị D1 (trú cùng bản) đang đứng ngoài cổng nhà D (theo lời khai của chị D1 thì D vừa đi vừa nói “Hôm nay tao sẽ giết người đấy” bằng tiếng dân tộc Thái).
Khoảng 16 giờ cùng ngày, khi đi ngang qua nhà anh H1, do vẫn bực tức nên D dừng xe trước cửa nhà của anh H1 và tiếp tục thách thức anh H1 ra ngoài đánh nhau với mình. Lúc này anh H1 đang đứng ở hiên nhà mình. Trước hành vi đó của D, anh H1 không kiềm chế được nên đã cầm một chiếc ghế nhựa màu đỏ ném về phía Dươi (nhưng không trúng D), đồng thời nhảy từ trên thềm nhà xuống chỗ D đang đứng. Ngay lúc đó, D tiến nhanh lại gần, áp sát rồi dùng tay phải rút con dao đang cất giấu trong túi quần bên phải ra đâm từ dưới lên trên, hướng vào mạng sườn trái của anh H1, anh H1 dùng tay trái đỡ được (vết đâm gây ra vết thương phần mềm có kích thước 07 cm ở mặt trước trong cánh tay trái). Dươi tiếp tục vung tay phải đâm dao từ dưới lên trên, hướng về phía bụng của anh H1, anh H1 tiếp tục dùng tai trái đỡ (vết đâm gây thương tích có kích thước 07 cm, thấu bụng, thủng ruột non). Sau hai lần đâm trên, D thấy anh H1 chảy máu và chạy về phía đầu bản. Do lo sợ nên D đã cầm theo con dao vừa gây án điều khiển xe máy đi đến Công an xã N, huyện S đầu thú. Còn anh H1 bị thương và được gia đình đưa đi cấp cứu.
Tại bản Kết luận giám định số: 851/KL-KTHS ngày 10/3/2023 của V - Bộ C kết luận: 01 (một) áo và 01 (một) chiếc quần có dính chất dịch màu đỏ thu giữ tại vị trí số 1 qua công tác khám nghiệm hiện trường có dính máu người và là máu của Lò Văn H1. Thu giữ dấu vết màu đỏ tại vị trí số 2 và số 3 qua công tác khám nghiệm hiện trường đều là máu người và đều là máu của Lò Văn H1. Trên con dao do Lò Văn D đến giao nộp có dính chất dịch màu đỏ là máu người và là máu của Lò Văn D.
Kết quả giám định số 906/KL-KTHS ngày 31/7/2023 của Phòng K1 - Công an tỉnh L kết luận: Không phát hiện dấu hiệu cắt, ghép chỉnh sửa trong 01 tệp tin video gửi giám định; Chụp được 12 ảnh và mô tả diễn biến sự việc trong bản ảnh giám định, trong đó tại ảnh 6 – 7: Người C (Lò Văn D) dùng tay phải cầm
một vật (không xác định) đâm hướng mạn sườn trái người A (Lò Văn H1), người A dùng tay trái đỡ; Ảnh 8-9: Người C tiếp tục vung tay phải, đâm hướng về phía bụng của người A, người A dùng tay trái đỡ.
Tại Bệnh án Ngoại khoa, số hồ sơ 20267069 của Bệnh viện đa khoa tỉnh L đối với bệnh nhân Lò Văn H1 xác định: Vùng mặt trước trong cánh tay trái có vết thương khoảng 07 cm; vùng bụng trên màu chậu trái có vết thương hình chữ L kích thước 07 cm. Chuẩn đoán vết mổ: Vết thương thấu bụng do dao đâm. Chuẩn đoán sau mổ: Vết thương thấu bụng, thủng ruột non do dao đâm/ Vết thương phần mềm cánh tay trái.
Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 41/KLTTCT-TTPYLC, ngày 17/3/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh L kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lò Văn H1 tại thời điểm giám định là: 30%.
Do bị hại không đồng ý với kết luận giám định trên vì cho rằng chưa đầy đủ các vết thương theo hồ sơ bệnh án, nên ngày 27/9/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã trưng cầu giám định lại lần thứ nhất tại Viện pháp y quốc gia H3 đối với các vết thương của Lò Văn H1. Bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể sống số 173, ngày 10/10/2023 của Viện pháp y quốc gia H3 kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lò Văn H1 tại thời điểm giám định là: 34%.
Do có mâu thuẫn trong hai kết luận giám định nên để có căn cứ giải quyết vụ án, ngày 18/10/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã ban hành quyết định trưng cầu giám định lần thứ hai số 02 tại V đối với các vết thương của Lò Văn H1. Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 7708/KL-KTHS, ngày 03/01/2024 của V Bộ C kết luận: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lò Văn H1 tại thời điểm giám định là: 34%.
Tại Bản cáo trạng số: 56/CT-VKSLC ngày 29 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu để xét xử bị can Lò Văn D về tội: “Giết người”, theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu đã truy tố, không oan, không sai.
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố, bị cáo Lò Văn D phạm tội “Giết người”; áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; Điều 38; Điều 15; điểm b,s
khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo 09 đến 10 năm tù; Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa trình bày luận cứ bào chữa: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét:
Về tội danh:
Về tính chất côn đồ theo khoản 1 Điều 123 là chưa đúng quy định của pháp luật và làm tăng nặng trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Tại phiên tòa lần trước đã làm rõ: thời điểm ban đầu không thể hiện trước khi gây thương tích, D có hành vi đe dọa, giết bị hại. Nhưng sau khi điều tra bổ sung, người làm chứng thay đổi lời khai khẳng định bị cáo có việc đe dọa giết bị hại trước khi thực hiện hành vi phạm tội.
Sự việc xảy ra do lỗi của bị cáo, nhưng bị hại đã có hành vi dùng chiếc ghế nhựa là hung khí ném về phía bị cáo, nhảy lao về phía bị cáo, sau đó bị cáo lao lại để hai bên đánh nhau. Khoảng cách diễn ra rất nhanh, hai bên có lao vào đánh nhau. Vết thương tích 7cm trên tay bị hại thể hiện bị cáo chỉ thực hiện hành vi khua khoắng dao, mà không phải đâm.
Cơ quan tiến hành tố tụng chưa làm rõ động cơ, mục đích thực hiện hành vi của bị cáo; bị cáo không có động cơ giết người, mà là hành vi cố ý gây thương tích do có mâu thuẫn từ trước. Đề nghị HĐXX xem xét bị cáo phạm tội cố ý gây thương tích, không có tính chất côn đồ.
Về tình tiết giảm nhẹ:
đồng ý như ý kiến của VKS (theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của bên bị hại tại phiên tòa lần thứ nhất.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật; về án phí: theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Gia đình bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh
tế, xã hội đặc biệt khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại:
Về tội danh:
Đồng ý với nội dung truy tố đối với bị cáo như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
Về trách nhiệm dân sự:
Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại thiệt hại gồm: Tiền viện phí, thuốc, chi phí đi lại khám chữa bệnh 10.836.000 đồng, chi phí đi giám định, thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc, làm lý (lợn, gà, rượu = 3.300.000 đồng); thiệt hại về tinh thần là 30.000.000 đồng. Tổng cộng là 117.234.000 đồng;
Ý kiến tranh luận của KSV:
- Đối với người bào chữa: Mặc dù bị cáo cho rằng hành vi của bị cáo phạm tội cố ý gây thương tích chứ không phải tội giết người, tuy nhiên qua kết quả điều tra bổ sung, có phát sinh nhiều tình tiết mới là lời khai của người làm chứng Lò Thị D1 thể hiện khi D cầm dao đi xe máy ra khỏi nhà thì D vừa đi vừa nói “Hôm nay tao sẽ giết người đấy” bằng tiếng dân tộc Thái. Ngoài ra căn cứ vào hồ sơ bệnh án của bị hại, Kết luận giám định tổn thương cơ thể của V1: bị hại bị tổn thất 34% sức khỏe, vết thương ở vùng trọng yếu; kết quả giám định video hiện trường thể hiện bị cáo đã đâm liên tiếp 02 lần vào vùng trọng yếu của bị hại. Bị hại không có thách thức hay hành vi tấn công nguy hiểm đối với bị cáo đến mức bị cáo phải dùng dao nhọn tấn công liên tục 02 lần về phía bị hại. Việc bị cáo sử dụng con dao nhọn là hung khí nguy hiểm, có tính sát thương đâm vào vùng trọng yếu, có khả năng gây tử vong cao, bị hại không chết là ngoài ý muốn của bị cáo. Từ đó thấy rằng hành vi của bị cáo thể hiện sự côn đồ, hung hãn, quyết liệt, bị cáo buộc phải nhận thức được việc thực hiện hành vi như thế có thể gây hậu quả chết người, lỗi của bị cáo là lỗi cố ý gián tiếp. Nên hành vi của bị cáo phạm tội giết người theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự và thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt.
- Đối với người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Đối với số tiền yêu cầu bồi thường, bị hại không cung cấp được căn cứ chứng từ, hóa đơn hợp pháp để yêu cầu đòi bồi thường nên chỉ chấp nhận một phần yêu cầu về bồi thường viện phí, thuốc men đối với các yêu cầu còn lại căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, khoản 1 Điều 586, Điều 590 Bộ
luật Dân sự; Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: Buộc bị cáo Lò Văn D có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Lò Văn H1 theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình theo quy định tại Điều 42 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Người bào chữa đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 73 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình, theo quy định tại Điều 84 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các tài liệu, chứng cứ được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định. Nên các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.
[2] Đánh giá chứng cứ, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại:
Những chứng cứ buộc tội, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ pháp luật, phù hợp với nhân thân của bị cáo, với mức độ nghiêm trọng, nguy hại cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai nhận tội tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở để xác định bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như sau:
Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong quan hệ giữa bị cáo và bị hại, khoảng 16 giờ ngày 27/01/2023, khi đi ngang qua nhà anh H1, bị cáo D dừng xe trước cửa nhà của anh H1 liên tục thách thức anh H1 ra ngoài đánh nhau với mình. Trước hành vi đó của bị cáo, anh H1 không kiềm chế được nên đã cầm một chiếc ghế
nhựa màu đỏ ném về phía bị cáo nhưng không trúng. Sau đó anh H1 nhảy từ trên thềm nhà xuống chỗ bị cáo đang đứng. Ngay lúc đó, bị cáo D tiến nhanh lại gần, áp sát rồi dùng tay phải rút con dao đang cất giấu trong túi quần bên phải ra đâm từ dưới lên trên, hướng vào mạng sườn trái của anh H1, anh H1 dùng tay trái đỡ được (vết đâm gây ra vết thương phần mềm có kích thước 07 cm ở mặt trước trong cánh tay trái). Dươi tiếp tục vung tay phải đâm dao từ dưới lên trên, hướng về phía bụng của anh H1, anh H1 tiếp tục dùng tai trái đỡ (vết đâm gây thương tích có kích thước 07 cm, thấu bụng, thủng ruột non). Hậu quả làm anh H1 bị tổn thương cơ thể là 34%.
Tại Án lệ số: 47/2021/AL1 về việc xác định tội danh trong trường hợp bị cáo dùng hung khí nguy hiểm đâm vào vùng trọng yếu của cơ thể bị hại xác định: Bị cáo dùng dao là hung khí nguy hiểm đâm vào vùng bụng của bị hại là vùng trọng yếu của cơ thể con người. Bị hại không chết là ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo. Trường hợp này, Tòa án phải xác định bị cáo chịu trách nhiệm hình sự về tội “Giết người”.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống mà bị cáo đã thực hiện hành vi sử dụng con dao nhọn (dài 30 cm, trong đó phần cán bằng gỗ dài 10 cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 20 cm) là hung khí đặc biệt nguy hiểm để đâm liên tiếp vào vùng vùng bụng, là vùng trọng yếu của cơ thể con người, trong đó có vết đâm gây thương tích có kích thước 07 cm, thấu bụng, thủng ruột non là thương tích đặc biệt nghiêm trọng, có thể tước đi tính mạng của anh H1, anh H1 không chết là do được đưa đi cứu chữa kịp thời. Theo Kết luận giám định thì anh H1 bị thương tích 34% và đây là thương tích ở thời điểm giám định, không phải thương tích ở thời điểm xảy ra vụ án, nên không phản ánh đúng thương tích của anh H1 và tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Việc anh H1 không chết là ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo D. Hành vi của Lò Văn D thực hiện là tương xứng với tình huống tại Án lệ số: 47/2021/AL1 của Tòa án nhân dân tối cao. Do đó, có đủ cơ sở để xác định hành vi nêu trên của bị cáo D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người”, thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt và có tính chất côn đồ, theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.
Từ những khẳng định và phân tích nêu trên Hội đồng xét xử nhận định các lập luận mà người bào chữa cho bị cáo về phần tội danh (cho rằng bị cáo chỉ phạm tội “Cố ý gây thương tích”) là không phù hợp với hành vi bị cáo đã thực
hiện, nên không được chấp nhận.
[3] Hành vi của bị cáo thực hiện là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương, nếu không xử lý nghiêm minh thì không ngăn chặn được cách giải quyết xung đột, mâu thuẫn trong xã hội. Cần phải đưa ra xét xử nghiêm minh để giáo dục phòng ngừa và răn đe trong xã hội.
[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo D sinh ra, lớn lên được ăn học đầy đủ và đảm nhận công việc bán chuyên trách tại địa phương, có đủ nhận thức, làm chủ được hành vi của mình nhưng vẫn cố tình phạm tội. Trước khi phạm tội bị cáo D chưa có tiền án, tiền sự gì nên là người có nhân thân tốt. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi, ngoài ra bị cáo cũng đã có tác động để gia đình bị cáo bồi thường cho người bị hại; trong quá trình lao động, sinh hoạt tại cộng đồng, bị cáo nhiều lần có nghĩa cử tốt, cứu giúp người trong hoàn cảnh tai nạn giao thông, cứu giúp người có nguy cơ chết đuối, người có ý định tự tử (được Ủy ban nhân dân xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu xác nhận). Nên bị cáo được hưởng các tình tình giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Căn cứ vào tính chất của vụ án, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Tính chất hành vi phạm tội của bị cáo thuộc vào trường hợp rất nghiêm trọng. Nên cần phải xét xử bị cáo mức án phạt tù nghiêm khắc, buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung. Khi lượng hình, Hội đồng xét xử sẽ xem xét, cân nhắc về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đây là lần đầu bị cáo phạm tội, để xét xử bị cáo mức án phù hợp.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Quan điểm của bị hại và người đại diện hợp pháp của mình về việc bồi thường là có căn cứ, tuy nhiên có nhiều yêu cầu chưa phù hợp như: thiệt hại về số ngày công lao động của bị hại, của người chăm sóc; chi phí đi khám chữa bệnh; chi phí làm lý. Căn cứ vào các Điều 584, 585, 590, 591 của Bộ luật Dân
sự, cũng như xem xét đầy đủ, toàn diện, phù hợp với thiệt hại thực tế xảy ra với bị hại do hậu quả trực tiếp từ hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo gây ra. Cần buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại các khoản gồm: tiền viện phí: 16.113.000 đồng; tiền thuốc, vận dụng bồi dưỡng sức khỏe: 3.285.000 đồng; chi phí đi lại chữa bệnh: 1.500.000 đồng; thu nhập thực tế bị mất của bị hại: 45 ngày x 300.000/ 1 ngày = 13.500.000 đồng; thu nhập của người chăm sóc: 30 ngày x 150.000/1 ngày = 4.500.000 đồng; bồi thường tổn thất về tinh thần: 30.000.000 đồng. Tổng cộng bị cáo D phải bồi thường cho bị hại thiệt hại tính bằng tiền là 68.898.000 đồng; được trừ 18.000.000 đồng gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại; bị cáo D còn phải bồi thường cho bị hại Hươi số tiền là 50.898.000 đồng.
[6.] Về xử lý vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao nhọn; phần còn lại sau giám định của hai dấu vết máu người ghi thu giữ tại vị trí số 2, vị trí số 3 trên hiện trường; mẫu tóc ghi thu của Lò Văn H1.
Trả lại cho bị cáo: 01 (một) chiếc quần dài màu đen; 01 (một) chiếc áo dài tay.
[7.] Về án phí: Bị cáo Lò Văn D là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Tại phiên tòa bị cáo có ý kiến xin được miễn án phí. Theo quy định tại Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự, dân sự sơ thẩm.
[8.] Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; Điều 15, 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự; Án lệ số: 47/2021/HĐTP-TANDTC; các Điều 331, Điều 333; điểm c khoản 1 khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
-
Tuyên bố bị cáo Lò Văn D phạm tội “Giết người”
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn D 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/02/2024.
-
Về vật chứng: Tuyên tịch thu tiêu huỷ các vật chứng sau: 01 (một) con dao nhọn; phần còn lại sau giám định của hai dấu vết máu người ghi thu giữ tại vị trí số 2, vị trí số 3 trên hiện trường; mẫu tóc ghi thu của Lò Văn H1.
Trả lại cho bị hại: 01 (một) chiếc quần dài màu đen; 01 (một) chiếc áo dài tay.
(Các vật chứng này đều được niêm phong theo mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/3/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Lai Châu, hiện đang do Cục Thi hành án dân sự tỉnh Lai Châu quản lý)
-
Trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lò Văn D phải bồi thường cho bị hại Lò Văn H1 thiệt hại tính bằng tiền là 68.898.000 đồng; được trừ 18.000.000 đồng gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại; bị cáo D còn phải bồi thường cho bị hại Hươi số tiền là 50.898.000 đồng.
Trường hợp bị cáo mà chậm trả tiền cho bị hại thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Về quyền, nghĩa vụ thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Hằng Hải |
Bản án số 75/2024/HS-ST ngày 04/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU về hình sự (giết người)
- Số bản án: 75/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Giết người)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án Lò Văn Dươi, bị xét xử về tội Giết người theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123
