Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NĂM CĂN

TỈNH CÀ MAU


Bản án số: 75/2024/DS-ST

Ngày: 23-8-2024

V/v tranh chấp “hợp đồng vay tài sản"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Trương Thị Hồng Ngân.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Hồng Nhiếp.

Ông Nguyễn Quốc Thống.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Tú Hương là Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 150/2024/TLST-DS ngày 10 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng C, (viết tắt Ngân hàng).

Trụ sở: Tòa nhà CC5, B L, Phường H, Quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Đỗ Ca S, chức vụ: Phó Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện N.

Địa chỉ: Số A, đường H, khóm G, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau; là người đại diện theo ủy quyền (xin vắng).

Bị đơn: - Ông Đinh Xuân H, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1975 (vợ ông H), (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp K, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau.

- Chị Đinh Thị Phương T, sinh năm 1998 (con ông H, bà Q), (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp K, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Quá trình giải quyết vụ án người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn trình bày yêu cầu:

Ngày 18 tháng 10 năm 2016 ông Đinh Xuân H đại diện hộ gia đình vay vốn tại Ngân hàng C số tiền 27.500.000 đồng. Vay theo gói học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn theo khế ước vay tiền số 6600000708754284, hạn trả vào ngày 10 tháng 7 năm 2025, lãi suất vay 6,6%/năm, lãi suất quá hạn 8,58%/năm. Số tiền còn nợ đến ngày 10/5/2024: Vốn gốc là 27.500.000 đồng, tiền lãi là 3.859.730 đồng.

Ngày 06 tháng 3 năm 2020 ông Đinh Xuân H đại diện hộ gia đình tiếp tục vay vốn tại Ngân hàng C số tiền 20.000.000 đồng. Vay theo gói nước sạch và vệ sinh môi trường theo khế ước vay tiền số 6600000717236867 hạn trả vào ngày 06 tháng 3 năm 2025, lãi suất vay 9,0%/năm, lãi suất quá hạn 11,700%/năm. Số tiền còn nợ đến ngày 10/5/2024: Vốn gốc là 20.000.000 đồng, tiền lãi là 3.905.758 đồng.

Quá trình thực hiện hợp đồng vay ông H không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng. Vì vậy, Ngân hàng yêu cầu ông H, bà Q, chị T liên đới thanh toán tổng số tiền vốn vay và lãi tính đến ngày 10/5/2024 là 55.310.480 đồng (trong đó vốn gốc là 47.500.000 đồng, lãi là 7.810.480 đồng) và yêu cầu tiếp tục thanh toán lãi phát sinh kể từ sau ngày 10/5/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng.

* Đối với bị đơn ông Đinh Xuân H, bà Nguyễn Thị Q, chị Đinh Thị Phương T:

Quá trình giải quyết vụ án ông H, bà Q, chị T không có văn bản phản hồi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Tòa án triệu tập ông H, bà Q, chị T tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng các đương sự đều vắng mặt không lý do.

* Tại phiên tòa:

Người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn và bị đơn vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ngân hàng C yêu cầu ông Đinh Xuân H, bà Nguyễn Thị Q, chị Đinh Thị Phương T thanh toán tiền vốn vay và lãi suất theo hợp đồng tín dụng nên xác định quan hệ pháp luật là Tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông Đinh Xuân H, bà Nguyễn Thị Q, chị Đinh Thị Phương T cư trú tại ấp K, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau nên theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.

Về sự vắng mặt của đương sự: Người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn có đơn xin vắng mặt. Bị đơn ông Đinh Xuân H, bà Nguyễn Thị Q, chị Đinh Thị Phương T vắng mặt xét xử lần 02. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung:

* Xét hợp đồng tín dụng:

Theo khế ước vay tiền số 6600000708754284 ngày 18 tháng 10 năm 2016 Ngân hàng đã giải ngân cho ông H số tiền 27.500.000 đồng, mục đích vay để hỗ trợ học tập cho chị T (con ruột ông H, bà Q) là sinh viên học ngành Kinh doanh thương mại tại Trường Đại học C1. Đến ngày 06 tháng 3 năm 2020 Ngân hàng tiếp tục giải ngân cho ông H số tiền 20.000.000 đồng theo khế ước vay tiền số 6600000717236867, vay theo gói nước sạch và vệ sinh môi trường để khoan cây nước và xây cầu vệ sinh.

Xét thấy, việc ký kết hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng và ông H có sự ủy quyền từ bà Q, mục đích ông H vay vốn nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình và phục vụ cho việc học tập của chị Phương T. Tại thời điểm ông H vay vốn thì chị T là người thành niên, có sử dụng vốn vay nên khi ông H vi phạm hợp đồng tín dụng, cụ thể vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng thì ông H, bà Q và chị T phải liên đới chịu trách nhiệm thanh toán nợ cho Ngân hàng là phù hợp với quy định tại Điều 288, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự và Điều 27, khoản 1 Điều 30, Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình, khoản 2 Điều 100, Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024.

Vì vậy, Hội đồng xét xử buộc ông Đinh Xuân H, bà Nguyễn Thị Q, chị Đinh Thị Phương T liên đới thanh toán cho Ngân hàng C tổng số tiền vốn vay và lãi suất tính đến ngày 10/5/2024 là 55.310.480 đồng (trong đó vốn gốc là 47.500.000 đồng, lãi là 7.810.480 đồng).

Kể từ ngày 11/5/2024 ông H, bà Q, chị T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.

[3] Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch các đương sự phải chịu theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm c khoản 1 Điều 11 và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Do yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận toàn bộ nên ông Đinh Xuân H, bà Nguyễn Thị Q, chị Đinh Thị Phương T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 2.765.524 đồng.

Ngân hàng C thuộc trường hợp không phải nộp tiền tạm ứng án phí và án phí dân sự sơ thẩm.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 288, Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 27, khoản 1 Điều 30, Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 100, Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024; điểm c khoản 1 Điều 11, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng C.

Buộc ông Đinh Xuân H, bà Nguyễn Thị Q, chị Đinh Thị Phương T liên đới thanh toán cho Ngân hàng C tổng số tiền vốn vay và lãi suất tính đến ngày 10/5/2024 là 55.310.480 đồng (trong đó vốn gốc là 47.500.000 đồng, lãi là 7.810.480 đồng).

Kể từ ngày 11/5/2024 ông H, bà Q, chị T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.

- Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

Ông Đinh Xuân H, bà Nguyễn Thị Q, chị Đinh Thị Phương T chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 2.765.524 đồng.

Ngân hàng C thuộc trường hợp không phải nộp tiền tạm ứng án phí và án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

- Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự.
  • - VKSND huyện Năm Căn;
  • - Chi cục THADS huyện Năm Căn;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Trương Thị Hồng Ngân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2024/DS-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 75/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger