|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 75/2024/HS - ST Ngày: 18/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Toản;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thân và bà Đào Thị Thanh Thủy;
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Vĩnh Thực - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích T - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại Nhà Văn hóa T4, phường P, thành phố S, Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 72/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hà Trọng Q - Sinh ngày: 04/9/1978, tại huyện P, tỉnh Thái Nguyên; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm T, xã T, huyện P tỉnh Thái Nguyên. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 5/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Hà Trọng Q1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị C - Sinh năm 1955. Gia đình bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; có vợ là Nguyễn Thị L - Sinh năm 1989 và có 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2010. Tiền án, tiền sự: Không có.
- Nhân thân: Ngày 15/01/2021, bị Chủ tịch UBND xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên ra Quyết định về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường, thời gian 03 tháng về hành vi: Sử dụng trái phép chất ma tuý.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/6/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố S, tỉnh Thái Nguyên
(Có mặt tại phiên tòa).
- Người làm chứng: Ông Lê Văn S - Sinh năm 1961;
Nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
(Vắng mặt tại phiên tòa).
- Người chứng kiến:
1. Ông Cao Quốc N - Sinh năm 1967;
Nơi cư trú: Tổ N, phường L, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.
2. Ông Dương Quang T1 - Sinh năm 1959;
3. Ông Nguyễn Văn T2 - Sinh năm 1952;
Nơi cư trú: Tổ Đ, phường L, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.
(Đều vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 40 phút ngày 03/6/2024, Công an phường L, thành phố S đang làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại Tổ dân phố (TDP) Đ, phường L, thành phố S thì phát hiện hai người đàn ông đang ngồi ven đường dân sinh có biểu hiện nghi vấn về việc tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý. Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra đối với hai người đàn ông này. Quá trình kiểm tra hai người lần lượt khai tên là Hà Trọng Q sinh năm 1978 và Lê Văn S, sinh năm 1961 (Cùng trú tại: Xóm T, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên). Qua kiểm tra phát hiện tại vị trí ngồi của S có 01 gói nhỏ bọc giấy màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng. Kiểm tra đối với Q thu giữ tại túi áo bên phải đang mặc trên người 01 gói nhỏ giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng và tại túi quần bên trái 02 bơm kim tiêm nhựa và 02 ống nước nhãn hiệu NOVOCAIN 3%. Q và S khai nhận đó là ma tuý loại heroine đang chuẩn bị sử dụng thì bị phát hiện, thu giữ. Ngoài ra, còn Công an phường L còn thu giữ của Hà Trọng Q 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM có gắn biển kiểm soát nhưng bị bóp méo, biến dạng không xác định chính xác các số, số khung: RLGSC10KHAH26417; số máy: VMSACBH026417. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng và chuyển hồ sơ vụ án đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S giải quyết theo thẩm quyền.
Cơ quan CSĐT Công an thành phố S phối hợp cùng Phòng K công an tỉnh T tiến hành mở niêm phong vật chứng cân xác định khối lượng đối với số chất bột màu trắng của Hà Trọng Q tổng khối lượng 0,175 gam, lấy toàn bộ 0,175 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu Q1. Số chất bột màu trắng của Lê Văn S khối lượng 0,067 gam, lấy toàn bộ 0,067 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu S1.
Tại Bản kết luận giám định số 683/KL-KTHS ngày 11/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Số chất bột màu trắng trong bì niêm phong Q1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,175 gam; Số chất bột màu trắng trong bì niêm phong S1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,067 gam.
Tại cơ quan điều tra, bị cáo Hà Trọng Q khai nhận: Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 03/6/2024 Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SYM mang Biển kiểm soát (BKS): 20P1-2295 mượn của ông Dương Đình L1 (Sinh năm 1976, trú tại: xóm T, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên) đi đến đoạn đường thuộc tổ K, phường L, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên để mua ma tuý. Tại đây Q gặp Lê Văn S và cho ông S đi nhờ do biết ông S cũng là người nghiện ma tuý, khi đi đến khu vực gần TDP X, phường L, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên, thì S bảo Q dừng xe lại. Q dừng xe lại Sáu xuống xe đi vào khu vực ngã ba cách nơi Q đứng khoảng 20m, lúc này trên tay S cầm tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, Q biết S đi mua ma tuý, khoảng 05 phút sau thì S quay lại chỗ Q và Q đi bộ vào khu vực ngã ba nơi S vừa mua ma tuý gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi, mặc quần, áo dài tối màu, đeo khẩu trang, đội mũ lưỡi trai. Quy biết người này bán ma tuý (Heroine) nên hỏi “Bán cho em một trăm trắng” đồng thời đưa cho người đó số tiền 100.000 đồng, người này cầm tiền rồi đưa lại cho Q 01 gói nhỏ bao giấy bạc màu trắng, sau khi mua được ma túy, Q cất dấu gói ma túy vào túi áo ngực bên phải rồi đi ra xe chở ông S1 đi dọc đường dân sinh rồi đến đồi keo ở khu vực thuộc T, phường L, thành phố S thấy vắng người thì dừng lại để tìm nơi sử dụng thì bị Công an phường L phát hiện và bắt quả tang thu giữ vật chứng nêu trên.
Đối với chiếc xe mô tô tạm giữ của bị cáo Hà Trọng Q, qua điều tra xác định xe mô tô mang BKS 20P1-2295, là của ông Dương Đình L1 (Sinh năm 1956, trú tại: Xóm T, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên). Cơ quan CSĐT Công an thành phố S đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho ông L1 quản lý, sử dụng.
Tại bản Cáo trạng số 73/CT - VKS ngày 28/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Hà Trọng Q về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Bị cáo Hà Trọng Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra.
- Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Hà Trọng Q về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:
Tuyên bố: Bị cáo Hà Trọng Quy phạm T3: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của BLHS, xử phạt bị cáo Q từ 18 - 24 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của BLHS, Điều 106 của BLTTHS, đề nghị tịch thu tiêu hủy tịch thu tiêu hủy những vật chứng không có giá trị sử dụng (01 bì niêm phong ký hiệu T; 01 bì niêm phong ký hiệu Q1; 02 ống nước cất nhãn hiệu NOVOCAIN và 02 bơm kim tiêm nhựa, chưa qua sử dụng).
- Về án phí: Buộc bị cáo Hà Trọng Q phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định pháp luật.
Bị cáo Hà Trọng Q không có ý kiến tranh luận, bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình và thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người, đúng tội.
Khi được nói lời sau cùng, bị cáo Hà Trọng Q có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt tù cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận, vì đã phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người tham gia tố tụng khác và các tài liệu chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ căn cứ kết luận:
Bị cáo Hà Trọng Q là đối tượng nghiện chất ma túy từ năm 2021 cho đến nay chưa bỏ được, nên bị cáo thường xuyên đi tìm mua ma túy về sử dụng. Hồi 06 giờ 40 phút ngày 03/6/2024, bị cáo điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SYM BKS 20P1-2295 đi đến đoạn đường thuộc tổ K, phường L, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên gặp và mua của 01 người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể 01 gói ma túy với giá 100.000 đồng. Sau đó, bị cáo cất gói ma túy vào túi áo ngực bên phải rồi điều khiển xe đi tìm nơi vắng người để sử dụng, khi đi đến khu vực thuộc TDP Đông, phường L, thành phố S thì bị Tổ công tác Công an phường L phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng là 01 gói ma túy vừa mua nêu trên, qua giám định là Heroine có khối lượng là 0,175 gam.
Xét hành vi mua ma túy và cất giữ ma túy loại Heroine có khối lượng 0,175 gam (không phẩy một bảy lămgam) với mục đích để sử dụng cho bản thân của bị cáo Hà Trọng Q đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS. Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công truy tố bị cáo về tội danh, điều luật viện dẫn trên là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Nội dung Điều 249 của BLHS quy định:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Heroine ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mức độ của tội phạm là nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, hành vi phạm tội của bị cáo còn tiếp tay cho những kẻ buôn bán trái phép chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an tại địa phương. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên bị cáo hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS.
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của BLHS.
Xét nhân thân, thấy bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường với thời hạn 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm cho bản thân mà lại tiếp tục lao vào con đường phạm tội, thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu. Vì vậy, dù có giảm nhẹ phần nào về hình phạt, cũng cần nên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian phù hợp để cho bị cáo có điều kiện cai nghiện ma túy cũng như cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của BLHS thì người phạm tội còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thấy bị cáo không có tài sản riêng, phạm tội không có mục đích thu lời bất chính. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5]Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của BLHS và Điều 106 BLTTHS, xử lý vật chứng vụ án như sau:
- Đối với những vật chứng là 01 bì niêm phong ký hiệu T bên trong có vỏ bì niêm phong ký hiệu Q, vỏ bì niêm phong kí hiệu S và giấy bạc màu trắng; 01 bì niêm phong ký hiệu Q1 bên trong có 0,165 gam mẫu Q1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu; 02 ống nước cất nhãn hiệu NOVOCAIN 3%, chưa qua sử dụng; 02 bơm kim tiêm nhựa, chưa qua sử dụng, xét thấy đây là vật chứng cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với chiếc xe mô tô tạm giữ của Hà Trọng Q, qua điều tra xác định xe mô tô mang BKS 20P1-2295, nhãn hiệu ELEGANT là của ông Dương Đình L1 (Sinh năm 1976, trú tại xóm T, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên). Cơ quan CSĐT Công an thành phố S đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho ông L1 là chủ sở hữu quản lý, sử dụng là phù hợp.
[6]Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với bị cáo, như đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt chính, xử lý vật chứng vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật cần chấp nhận, về đề nghị mức hình phạt chính của người bào chữa cho bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người có nhân thân xấu nên không có căn cứ chấp nhận như đãnêu trên.
[7] Cần áp dụng Điều 329 của BLTTHS ra quyết định tạm giam bị cáo với thời hạn 45 ngày để đảm bảo thi hành án theo quy định.
[8]Về nguồn gốc số ma túy đã bị thu giữ, bị cáo Q, khai mua của một người đàn ông không xác định được họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể ở khu vực TDP X, phường L, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S không có căn cứ xác minh, làm rõ.
- Đối với Lê Văn S ngày 03/6/2024 có hành vi tàng trữ trái phép 0,067 gam chất ma tuý loại Heroin nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Tuy nhiên, khối lượng chất ma tuý mà S tàng trữ dưới 0,1 gam, do vậy không đủ yếu tố cấu thành tội phạm: Tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo quy định tại Điều 249 BLHS, nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố S ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lê Văn S là phù hợp.
[9]Về án phí: Bị cáo phải chịu một khoản án phí HSST nộp vào ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm c khoản 1 điều 47, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của BLHS đối với Hà Trọng Q;
- Điểm a, c khoản 2 Điều 106, các Điều 136, 329, 331 và 333 của BLTTHS;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Trọng Quy phạm T3: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Hà Trọng Q 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 03/6/2024.
3. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định khoản 5 Điều 249 của BLHS.
4. Ra Quyết định tạm giam bị cáo Hà Trọng Q với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
5. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau đây: 01 bì niêm phong ký hiệu Q1 bên trong có 0,165 gam mẫu Q1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu; 01 bì niêm phong ký hiệu T bên trong có vỏ bì niêm phong ký hiệu Q, vỏ bì niêm phong kí hiệu S và giấy bạc màu trắng; 02 ống nước cất nhãn hiệu NOVOCAIN 3%, chưa qua sử dụng; 02 bơm kim tiêm nhựa, chưa qua sử dụng.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/9/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố S và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên).
6.Về án phí: Buộc bị cáo Hà Trọng Q phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST nộp vào ngân sách Nhà nước.
7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Hà Trọng Q có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Toản |
Bản án số 75/2024/HS - ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 75/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Trọng Quy phạm T3: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
