|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 75/2023/HS-ST Ngày: 19/12/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Dung.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Quốc Xuân;
- Bà Trần Thị Bích Liên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Chí Đông – Thư ký Toà án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đào Minh Nguyên - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2023, tại phòng Xử án Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 87/2023/HSST ngày 13 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 375/2023/QĐXX-HS ngày 17 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 400/2023/HSST-QĐ ngày 06 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Mai Thành K, tên gọi khác: Không; sinh năm 1993 tại Thành phố Hải Phòng; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn C, xã N, huyện A, Thành phố Hải Phòng; chỗ ở trước khi bị bắt: Không có nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 11/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; con ông Mai Thành C và bà Nguyễn Thị Hồng G; có vợ là Cao Thị T; có 01 con sinh năm 2022;
Tiền sự: Ngày 06/9/2016, bị Công an Quận N, Thành phố Hà Nội ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng do có hành vi trộm cắp tài sản, theo Quyết định số 3211/QĐ-XPHC. Đến nay Mai Thành Kiên chưa nộp phạt theo quy định.
Tiền án:
- Ngày 21/10/2016, bị Tòa án nhân dân Quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội xử phạt 10 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, theo Bản án số 259/2016/HSST. Mai Thành K chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/5/2017 và đã nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
- Ngày 21/4/2019, bị Công an Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh bắt tạm giam về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Đến ngày 10/9/2019, bị Tòa án nhân dân Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, theo Bản án số 139/2019/HSST. Mai Thành K chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/02/2021 và đã nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo Mai Thành K bị bắt tạm giam từ ngày 20/6/2023. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Chí Hòa/ T30 - Công an Thành phố H – Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1989; địa chỉ: C ấp C, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 05/10/2022, anh Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn K1, anh Nguyễn Văn T1 và Mai Thành K làm việc tại Công trình xây dựng Lô G, Chung cư S, ấp E, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh đang nghỉ giải lao tại tầng trệt của Công trình. Lúc này, anh H nói với K “đi mua đồ ăn cho anh em ăn để làm tăng ca tối” rồi đưa chìa khóa xe, thẻ giữ xe môtô biển số 38K1-611.23 và 300.000 đồng cho K đi mua đồ ăn. K cầm tiền, cầm chìa khóa xe và thẻ giữ xe môtô rồi hỏi anh H “xe để ở chỗ nào”, anh H trả lời “xe để ở bãi giữ xe của Công trình”. K ra bãi giữ xe lấy xe môtô biển số 38K1-611.23 của anh H điều khiển đi ra cổng soát vé của Công trình. Do không có tiền tiêu xài và trả nợ nên khi đi đến đường nội bộ khu K, K đã nảy sinh ý định chiếm đoạt 300.000đ và chiếc xe môtô trên của anh H mang bán lấy tiền. K dừng xe lại, lấy điện thoại di động lên mạng tìm hiểu giá trị xe môtô cùng loại với xe môtô biển số 38K1-611.23 của anh H và tắt điện thoại di động để anh H không liên lạc được rồi điều khiển xe bỏ trốn. Sau đó, K rao bán chiếc xe môtô biển số 38K1-611.23 thông qua tài khoản Facebook “Sơn Nguyễn H1” do K tạo, với giá tiền là 10.000.000 đồng. Đến ngày 08/10/2022, có một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) nhắn tin cho K hỏi mua chiếc xe môtô biển số 38K1-611.23 và hẹn K mang xe đến địa điểm tại đường Q, thuộc khu phố D, thị trấn T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh thì K
đồng ý mang xe đến bán tại địa điểm trên và nhận trực tiếp 10.000.000 đồng từ người đàn ông, rồi cả hai ra về mà không làm giấy tờ mua bán.
Sau khi bán chiếc xe môtô biển số 38K1-611.23, K bỏ trốn đến tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xin việc làm. Ngày 13/6/2023, K lên thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng làm công nhân đóng trần thạch cao cho Công trình xây dựng. Tại đây, anh Nguyễn Văn T1 cũng đang làm việc và biết việc K chiếm đoạt xe môtô biển số 38K1-611.23 của anh H1 nên giữ K lại và trình báo cho Công an phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng về hành vi của K. Sau đó, anh T1 thông báo cho anh H1 biết nên anh H1 đến Công an xã P, huyện N trình báo sự việc. Công an xã P, huyện N lập hồ sơ ban đầu, tiếp nhận Mai Thành K và chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N thụ lý điều tra theo thẩm quyền.
Kết luận định giá tài sản số 36 ngày 19/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện N (BL 24), kết luận: 01 chiếc xe môtô biển số 38K1-611.23, tình trạng đã qua sử dụng, mua mới vào khoảng tháng 12/2021 được định giá là 42.500.000₫.
Vật chứng của vụ án: Thu giữ của Mai T2 Kiên 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Huawei Nova3e, màu trắng đen. K sử dụng chiếc điện thoại di động trên liên lạc với người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch để thỏa thuận bán chiếc xe môtô biển số 38K1-611.23. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã chuyển vật chứng trên đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè theo phiếu nhập kho số 2024-NK014 ngày 27/11/2023.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Nguyễn Văn H yêu cầu Mai Thành K bồi thường tổng số tiền 42.800.000đ.
Tại Cơ quan Công an, Mai Thành K đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Bản Cáo trạng số: 84/CT-VKS-NB ngày 13/11/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè đã truy tố bị cáo Mai Thành K về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 2 Điều 175; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 buộc bị cáo Mai Thành K bồi thường cho bị hại ông Nguyễn Văn H số tiền 42.800.000 đồng, gồm 300.000 đồng ông H đưa cho bị cáo đi mua đồ ăn và 42.500.000 đồng là giá trị chiếc xe môtô biển số 38K1-611.23 của ông H mà bị cáo chiếm đoạt.
Xử lý vật chứng: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Huawei Nova3e, màu trắng đen. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã chuyển vật chứng trên đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè.
Bị cáo không tranh luận, không tự bào chữa và chỉ nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt để có điều kiện đi làm, chăm sóc gia đình và nuôi con.
Căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai nhận tội của bị cáo và tại phiên tòa xét có đủ cơ sở để kết luận:
Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 05/10/2022, Mai Thành K cùng ông Nguyễn Văn H làm việc tại Công trình xây dựng Lô G, Chung cư S, ấp E, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong giờ nghỉ giải lao, ông Nguyễn Văn H đã giao cho K 300.000 đồng và đưa chìa khóa chiếc xe môtô biển số 38K1-611.23 để K đi mua đồ ăn cho anh em công nhân làm chung. Tuy nhiên, K không đi mua cơm mà đã chiếm đoạt 300.000 đồng và chiếc xe môtô biển số 38K1-611.23 rồi bỏ trốn. K đã dùng điện thoại di động nhãn hiệu Huawei Nova3e, màu trắng đen để đăng
tin bán, liên lạc với người đàn ông không rõ lai lịch để bán xe môtô biển số 38K1-611.23 với giá 10.000.000 đồng.
Theo Bản kết luận định giá tài sản số 36 ngày 19/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện N (BL 24), kết luận: 01 chiếc xe môtô biển số 38K1-611.23, tình trạng đã qua sử dụng, mua mới vào khoảng tháng 12/2021 được định giá là 42.500.000đ.
Tổng cộng giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt của bị hại là: 42.800.000 (bốn mươi hai triệu tám trăm nghìn) đồng.
Bị cáo Mai Thành K bị Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo bản án số 259/2016-HSST, bị cáo chưa được xóa án tích đã tái phạm và bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xử phạt 02 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo bản án số 139/2019/HSST. Đến nay, bị cáo chưa được xóa án tích nhưng lại tiếp tục chiếm đoạt xe môtô biển số 38K1-611.23 của ông Nguyễn Văn H, thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm.
Với những tình tiết được chứng minh trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo đã phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, tội phạm được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) theo như cáo trạng số 84/CT-VKS-NB ngày 13/11/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, T2 phồ Hồ Chí M đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:
Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, mục đích phạm tội là muốn có tiền tiêu xài cho bản thân. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc làm của mình là sai trái, là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội. Tội phạm bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội tại địa phương, tạo tâm lý hoang mang, làm mất lòng tin trong quần chúng nhân dân trong việc quản lý tài sản. Do đó, khi lượng hình cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn một thời gian thì mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[6] Bị cáo không có nghề nghiệp, không có nguồn thu nhập ổn định, có con nhỏ sinh năm 2022 và hiện đang bị tạm giam, do đó Hội đồng xét xử xem xét không buộc bị cáo phải chịu hình phạt tiền theo khoản 5 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[7] Đối với người đàn ông mua chiếc xe môtô biển số 38K1-611.23. Do không rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N tiếp tục làm rõ xử lý sau.
[8] Về xử lý vật chứng của vụ án: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Huawei Nova3e, màu trắng đen thu giữ của Mai Thành K. K sử dụng chiếc điện thoại di động trên liên lạc với người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch để thỏa thuận bán chiếc xe môtô biển số 38K1-611.23 là công cụ bị cáo sử dụng cho mục đích phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước.
[9] Về dân sự: Ông Nguyễn Văn H đã đưa cho bị cáo số tiền 300.000 đồng và giao chiếc xe môtô biển số 38K1-611.23 để M K đi mua đồ ăn, tuy nhiên K đã chiếm đoạt số tiền 300.000 đồng và bán xe máy của ông Nguyễn Văn H2 cho người đàn ông lạ mặt số tiền 10.000.000 đồng, chiếc xe K chiếm đoạt được định giá là 42.500.000đ. Do đó, bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 42.800.000 đồng là có cơ sở, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bị hại.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Mai Thành K phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".
- Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 175; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Mai Thành Kiên 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/6/2023.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 buộc bị cáo Mai Thành K bồi thường cho bị hại ông Nguyễn Văn H số tiền 42.800.000 (bốn mươi hai triệu tám trăm nghìn) đồng.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu sung
quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Huawei Nova3e, màu trắng đen.
(Theo Phiếu nhập kho số 2024-NK014 ngày 27 tháng 11 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhà Bè).
- Về án phí: Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 2.140.000 (hai triệu một trăm bốn nghìn) đồng.
- Về quyền và nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
|
|
Phạm Thị D |
Bản án số 75/2023/HS-ST ngày 19/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 75/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
