|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU TỈNH TÂY NINH ————— |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 75/2024/HNGĐ-ST
Ngày 19-7-2024
V/v tranh chấp về ly hôn, nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tiến Danh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Ánh Nhạn;
- Bà Trần Thị Đào.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Nhựt Quang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Ngô Anh Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 367/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2024 về việc tranh chấp về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1979. “vắng mặt”
Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1964. “vắng mặt”
Địa chỉ: Ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 06/5/2024, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Thu T đã khai:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Thanh H trên cơ sở tìm hiểu nhau một thời gian thì tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2006. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 3/2016 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bà và ông H bất đồng quan điểm sống, không còn hợp nhau về tính tình nên thường xuyên gây gỗ. Bà và ông Hải ly t từ tháng 3/2016 cho đến nay. Xét thấy bà và ông Hải ly t đã lâu, không còn tình cảm vợ chồng nên bà yêu cầu ly hôn đối với ông Nguyễn Thanh H.
Về con chung: Bà và ông H có hai con chung tên Nguyễn Thị Quế T1, sinh ngày 05/01/2007 và Nguyễn Cao T2, sinh ngày 10/11/2011. Hiện tại, cháu T1 đang sống với bà, cháu T2 đang sống với ông H. Khi ly hôn, bà yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng cháu T1, giao cháu T2 cho ông H tiếp tục nuôi dưỡng; không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà và ông H không có, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Bà cam kết ông bà không có nợ chung ai.
Bị đơn – ông Lê Văn H1 đã khai:
Về quan hệ hôn nhân: Ông thống nhất quan hệ hôn nhân, nguyên nhân mâu thuẫn và thời gian ly thân như lời trình bày của bà T. Ông nhận thấy ông bà ly thân đã lâu, không còn tình cảm vợ chồng nên đồng ý ly hôn đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thu T.
Về con chung: Ông và bà T có hai con chung tên Nguyễn Thị Quế T1, sinh ngày 05/01/2007 và Nguyễn Cao T2, sinh ngày 10/11/2011. Hiện tại, cháu T2 đang sống với ông, cháu T1 đang sống với bà T. Khi ly hôn, ông yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng cháu T2, giao cháu T1 cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng; không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Ông và bà T không có, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Ông cam kết ông bà không có nợ chung ai.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi vào nghị án được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Căn cứ vào các Điều 9, 14, 53, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Về hôn nhân: không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà T và ông H1; về con chung: giao cháu Nguyễn Thị Quế T1 cho bà T nuôi dưỡng, giao cháu Nguyễn Cao T2 cho ông H1 nuôi dưỡng; về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án do các bên cung cấp và qua kết quả thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, xét thấy:
[1] Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Thu T khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Thanh H, ông H có địa chỉ tại huyện G, tỉnh Tây Ninh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết, bà T và ông H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, do đó căn cứ khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
[2] Về hôn nhân: Bà T và ông H có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, nhưng chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2006 cho đến nay mà không đăng ký kết hôn nên không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Căn cứ vào Điều 9 và 14 của Luật Hôn nhân và Gia đình, quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông H không được pháp luật công nhận là vợ chồng.
[3] Về con chung: Bà T và ông H thống nhất có hai con chung tên Nguyễn Thị Quế T1, sinh ngày 05/01/2007 và Nguyễn Cao T2, sinh ngày 10/11/2011. Hiện tại, cháu T1 đang sống với bà T, cháu T2 đang sống với ông H. Khi ly hôn, bà T và ông H thỏa thuận giao cháu T1 cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng, giao cháu T2 cho ông H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp theo nguyện vọng của cháu T1, cháu T2 và theo Điều 71 Luật Hôn nhân và gia đình. Ghi nhận bà T, ông H không yêu cầu người còn lại cấp dưỡng nuôi con.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà T và ông H không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
[5] Đối với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, có căn cứ nên chấp nhận.
[6] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thu T phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Nguyễn Thanh H không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 9, 14, 53, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147 Bộ Luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Không công nhận bà Nguyễn Thị Thu T và ông Nguyễn Thanh H là vợ chồng.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Quế T1, sinh ngày 05/01/2007 cho bà T tiếp tục trông nôm, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giao cháu Nguyễn Cao T2, sinh ngày 10/11/2011 cho ông H tiếp tục trông nôm, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận bà T, ông H không yêu cầu người còn lại cấp dưỡng nuôi con.
Bà Nguyễn Thị Thu T, ông Nguyễn Thanh H được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở bà T, ông H thực hiện quyền này.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà T và ông H không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thu T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, cho khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0014256 ngày 07/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh. Ông Nguyễn Thanh H không phải chịu án phí.
5. Quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Thu T, ông Nguyễn Thanh H có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Tiến Danh |
Bản án số 75/2024/HNGĐ-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp về ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 75/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp về ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về ly hôn và nuôi con giữa Nguyễn Thị Thu T - Nguyễn Thanh H
