|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số 75/2024/HS-ST Ngày 18 tháng 7 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ngọc Hà.
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Hảo và bà Nguyễn Phan Thùy Trang.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Cheo, Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 58/2024/HSST ngày 09 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
NGUYỄN VĂN PHÚC, sinh năm 1969; nơi sinh: huyện C, tỉnh Tiền Giang;
nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: chạy xe Honda đầu; trình độ học vấn: đã phổ cập lớp xóa mù chữ; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1931 (đã chết) và bà Hồ Thị N, sinh năm 1930 (đã chết); anh, chị, em ruột có 05 người, bị cáo là người thứ nhất; vợ là Nguyễn Thị L, sinh năm 1973 (đã ly hôn); con có 03 người, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 1995.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/02/2024 đến nay, tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố C, tỉnh An Giang.
Người bào chữa của bị cáo P:
- Ông Huỳnh Tấn D, Luật sư Công ty L1 - thuộc Đoàn Luật sư thành phố H, có đơn xin vắng mặt.
- Ông Đào Quốc V, Luật sư Công ty L1 - thuộc Đoàn Luật sư thành phố H, có mặt.
Bị hại: Ông Dương Văn C, sinh năm 1976 (đã chết).
Đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Lê Thị Bé X, sinh năm 1974; nơi cư trú: Tổ F, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị L (Ú), sinh năm 1973; nơi cư trú: Tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang, có mặt.
- Bà Lê Thị Bé X, sinh năm 1974; nơi cư trú: Tổ F, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang, có mặt.
- Bà Trần Thị Bích T, sinh năm 1990; nơi cư trú: Ấp C, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang, vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1995; nơi cư trú: Tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang, có mặt.
Người làm chứng:
- - Ông Dương Văn D1, sinh năm 1974; có mặt.
- - Ông Nguyễn Thành T1, sinh năm 1984; ông Đặng Minh A, sinh năm 2008; ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1974, cùng vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 15/02/2024, Nguyễn Văn P1, Nguyễn Văn T2 và Nguyễn Thị L (cùng hành nghề chạy xe Hon đa đầu) tìm khách trong khuôn viên chùa H1 thuộc tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang thì thấy Dương Văn C đang mời một nhóm khách khoảng 06 – 07 người. Lúc này, giữa L (là vợ, đã ly hôn với bị cáo P1) và C xảy ra mâu thuẫn cự cải và đánh nhau, P1 chạy đến phía sau C, tay trái P1 nắm vai phải Cụm kéo về phía sau, khi mặt C quay ngang chưa đối diện với P1, P1 cầm nón bảo hiểm bằng tay phải đánh trúng vào vùng mặt bên phải của C, C bị choáng váng ngã xuống đường, đầu Cụm đập xuống nền đường bất tỉnh được đưa đi cấp cứu, đến ngày 17/02/2024 C chết. Riêng, P1 sau khi hay tin C bị bất tỉnh đã đến Công an phường N đầu thú.
Căn cứ Kết luận giám định tử thi số 41/24/KLGĐTT-TTPY ngày 17/02/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh A, kết luận nguyên nhân chết của Dương Văn C là chấn thương sọ não nặng, máu tụ ngoài màng cứng, máu tụ dưới màng cứng, dập phù não.
Ngày 22/02/2024 Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố C ra các Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn P1 về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự;
Cáo trạng số 51/CT-VKSCĐ-HS ngày 09/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố bị cáo Nguyễn Văn P1 về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
Bị cáo P1 thừa nhận đã có hành vi gây thương tích cho bị hại Dương Văn C dẫn đến bị hại chết, đồng ý với các Kết luận giám định tử thi như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, giai đoạn điều tra đã tác động gia đình bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại C số tiền 60.000.000 đồng chi phí mai táng.
Đại diện hàng thừa kế thứ nhất của bị hại C thống nhất cử Bà Lê Thị Bé X (vợ của bị hại) là đại diện hợp pháp cho bị hại có ý kiến xin giảm nhẹ cho bị cáo về trách nhiệm hình sự, đồng ý nhận 60.000.000 đồng chi phí mai táng cho bị hại từ gia đình bị cáo. Đồng thời, yêu cầu bị cáo P1 phải có trách nhiệm bồi thường tiếp số tiền cấp dưỡng cho cha mẹ bị hại 100.000.000 đồng, bù đắp khoản tiền tổn thất tinh thần 100.000.000 đồng cho gia đình, tổng cộng là 200.000.000 đồng.
Hội đồng xét xử công bố lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng vắng mặt.
Kiểm sát viên trình bày lời luận tội:
Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố bị cáo Nguyễn Văn P1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt, áp dụng điểm a khoản 4 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P1 từ 05 (năm) năm đến 06 (sáu) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Về xử lý vật chứng, áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015, đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội, tiếp tục lưu trữ đĩa DVD ghi lại hình ảnh phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn P1.
Về trách nhiệm dân sự, bị cáo P1 đã bồi thường chi phí mai táng cho đại diện hợp pháp của bị hại C số tiền 60.000.000 đồng, tại phiên tòa gia đình bị hại yêu cầu bồi thường tiếp 200.000.000 đồng, bị cáo cũng đồng ý bồi thường. Căn cứ Điều 584, 586, 591 Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 200.000.000 đồng.
Luật sư Đào Quốc V bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn P1 trình bày ý kiến: Thống nhất về tội danh, khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đã truy tố bị cáo P1. Đề nghị Hội đồng xét xử quan tâm xem xét thêm về hoàn cảnh gia đình, thành phần nhân dân lao động, bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo đã tác động gia đình khắc phục một phần hậu quả, lỗi cũng có 01 phần của bị hại C. Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp cho bị hại cũng xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, đề nghị xem xét áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự như quan điểm luận tội của Kiểm sát viên khi lượng hình cho bị cáo sớm trở về gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2] Người bào chữa là luật sư Huỳnh Tấn D có đơn xin xét xử vắng mặt và được bị cáo đồng ý việc vắng mặt của luật sư; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, xét việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 291, 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quyết định vẫn tiến hành xét xử.
[3] Về hành vi phạm tội
Lời khai nhận của bị cáo với các chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra, đã được thẩm tra tại phiên tòa cùng lời khai của đại diện hợp pháp bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị L, người làm chứng Nguyễn Văn T2 và các tài liệu, chứng cứ khác được thể hiện trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định bị cáo Nguyễn Văn P1 là người gây ra thương tích cho bị hại Dương Văn C, hậu quả dẫn đến chết người, theo Kết luận giám định pháp y về tử thi Dương Văn C của Trung tâm pháp y, Sở Y.
[4] Xét bị cáo Nguyễn Văn P1 là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, lẽ ra, khi thấy Nguyễn Thị L (là vợ bị cáo, đã ly hôn nhưng vẫn chung sống cùng nhà) mâu thuẫn với bị hại C, bị cáo đến can ngăn, khuyên can, ngược lại, chỉ vì nóng giận, thiếu kềm chế, bản tính nóng nảy, bị cáo đã dùng nón bảo hiểm tấn công trực tiếp vào mặt bị hại, dẫn đến bị hại Cụm mất thăng bằng, té ngã đập đầu chấn thương dẫn đến tử vong. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn P1 là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác.
Xét về tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo thấy rằng, bị cáo không có ý định cố ý tước đoạt sinh mạng của bị hại, hành vi của bị cáo dùng nón bảo hiểm tấn công vùng mặt bị hại, mục đích đánh đáp trả lại bị hại vì bị hại có hành vi đánh nhau với bà L, việc bị hại ngã xuống té chấn thương phần đầu dẫn đến chết người, hậu quả chết người xảy ra là ngoài mong muốn ý thức của bị cáo. Do đó Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố bị cáo tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết hậu quả chết người theo quy định điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt từ 07 năm đến 14 năm, thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng, là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật. Chính vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt thật tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo P1 để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.
[5] Bị cáo P2 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, thuộc thành phần lao động làm thuê, mới phổ cập xóa mù chữ nên nhận thức pháp luật thấp, còn hạn chế, luôn có thái độ ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo, giai đoạn điều tra đã khắc phục 60.000.000 đồng chi phí mai táng. Tại phiên tòa bị cáo tự nguyện bồi thường 200.000.000 đồng để bù đắp tổn thất tinh thần cho gia đình bị hại và chi phí cấp dưỡng, điều đó thể hiện thiện chí khắc phục lỗi lầm, ăn năn của bị cáo. Mặt khác, vụ việc xảy ra cũng có 01 phần lỗi của bị hại, đại diện gia đình bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, nên xem xét áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ tại các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét thấy, bị cáo P1 có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 51, nên đủ điều kiện áp dụng cho bị cáo hưởng khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.
[6] Quan điểm luận tội của Kiểm sát viên, luận cứ của luật sư bào chữa cho bị cáo là phù hợp và có căn cứ, được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận trong quá trình nghị án.
[7] Về trách nhiệm dân sự, bị cáo P1 đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại Cụm số tiền 60.000.000 đồng. Tại phiên tòa, gia đình bị hại yêu cầu bồi thường tiếp 200.000.000 đồng, bị cáo đồng ý. Căn cứ Điều 584, 586, 591 Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo P1 phải bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại Lê Thị Bé X số tiền là 200.000.000 đồng.
[8] Về xử lý vật chứng, căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Đối với vật chứng nón bảo hiểm của bị cáo, bị hại sử dụng liên quan đến vụ án, các đương sự không có yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu hủy; tiếp tục lưu hồ sơ vụ án đĩa DVD ghi lại hình ảnh bị cáo Nguyễn Văn P1 thực hiện hành vi gây thương tích cho bị hại.
[9] Về án phí, bị cáo Nguyễn Văn P1 phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn P1, người đại diện hợp pháp của bị hại Dương Văn C, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt Nguyễn Văn P1 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo P1 được tính kể từ ngày 15 tháng 02 năm 2024.
Căn cứ Điều 584, 586, 591 Bộ luật Dân sự năm 2015, buộc bị cáo Nguyễn Văn P1 phải bồi thường thiệt hại cho đại diện hợp pháp của bị hại Dương Văn C, người đại diện nhận là bà Lê Thị Bé X, số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Tiếp tục lưu trữ đĩa DVD trong hồ sơ vụ án; tịch thu, tiêu hủy vật chứng không có giá trị sử dụng gồm 02 nón bảo hiểm liên quan đến vụ án (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/7/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc).
Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Văn P1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm nghìn) đồng, án phí dân sự sơ thẩm là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của các đương sự vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Trịnh Thị Ngọc Hà |
Bản án số 75/2024/HS-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 75/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
