Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC KẠN

TỈNH BẮC KẠN

Bản án số: 75/2024/HSST

Ngày 17/9/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt Thu.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/Ông Nông Hữu Thái;

2/ Ông Bùi Văn Khiếu.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Xuân – Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Bà Phùng Thị Thêu - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại điểm cầu Trung tâm Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn kết nối với điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn tiến hành xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 77/2024/TLST - HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2024/QĐXXST-HS ngày 05/9/2024 đối với các bị cáo:

1/ Hà Quang T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 07 tháng 4 năm 2002 tại tỉnh Thái Nguyên; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hà Văn T1 và bà: Trương Thị L; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B từ ngày 04/01/2024 cho đến nay. Có mặt tại điểm cầu thành phần.

2/ Trần Văn H (tên gọi khác: Không), sinh ngày 29 tháng 02 năm 1996 tại tỉnh Thái Nguyên; nơi ĐKHKTT: Xóm H, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; chỗ ở: Tổ D, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Sán Chay; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn Q và bà: Phạm Thị Mai S; có vợ tên Lường Thị Ngọc Á; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B từ ngày 24/7/2024 cho đến nay. Có mặt tại điểm cầu thành phần.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Công ty TNHH D1; địa chỉ: Số nhà C, ngõ A đường Q, tổ F phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Tiến D; sinh năm 1960; chức vụ: Phó phòng điều hành an toàn, Công ty TNHH D1.

Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt.

2/ Lường Thị Ngọc Á; sinh năm 1997; trú tại: Tổ D, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do.

Có mặt tại điểm cầu trung tâm.

* Người tham gia tố tụng khác (Có mặt tại điểm cầu thành phần):

  • - Ông Nông Văn T2 – Cán Bộ Công an thành phố B, tỉnh Bắc Kạn.
  • - Ông Nông Như Hải K - Chiến sĩ Công an thành phố B, tỉnh Bắc Kạn.
  • - Ông Triệu Đức H1 - Chiến sĩ Công an thành phố B, tỉnh Bắc Kạn.
  • - Ông Nguyễn Long K1 - Chiến sĩ Công an thành phố B, tỉnh Bắc Kạn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 03/01/2024, tại khu vực tổ A, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B bắt quả tang đối với Hà Quang T, sinh năm 2002, trú tại tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ tại ô hiển thị công tơ mét của xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI GRAND màu trắng, biển kiểm soát 20A-108.64 (xe ô tô do T điều khiển trước đó và đang dừng đỗ ở lề đường) có 01 (một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có 01 (một) túi nilon trong suốt, có khóa zip kéo viền màu đỏ, bên ngoài bọc bằng các tờ giấy ăn màu vàng, bên trong túi nilon có chứa 12 (mười hai) viên nén hình lục giác màu trắng và 02 (hai) gói nilon trong suốt có khóa zip kéo viền màu xanh, bên trong mỗi gói đều có chứa tinh thể màu trắng, nghi là ma túy tổng hợp (niêm phong trong phong bì ký hiệu T1). Ngoài ra, tổ công tác còn tạm giữ 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu hồng trắng đã qua sử dụng, bên trong có lắp sim, có số thuê bao 0363.846.328; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu hồng trắng đã qua sử dụng, bên trong có lắp sim, số thuê bao 0879.168.607; 01 (một) xe ô tô HUYNDAI GRAND màu trắng, BKS 20A-108.64 đã qua sử dụng cùng chìa khóa xe.

Ngày 04/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã tiến hành mở niêm phong, kiểm tra, cân xác định khối lượng các chất đã thu giữ, được niêm phong trong phong bì kí hiệu T1 có:

  • + 12 (mười hai) viên nén hình lục giác màu trắng nghi là chất ma túy, mỗi viên đều có một mặt có in chữ VL, một mặt có in hình 02 (hai) bông hoa. Tiến hành cân riêng 12 (mười hai) viên nén nói trên có tổng khối lượng là 5,243g (năm phẩy hai bốn ba gam), sau khi cân cho toàn bộ số viên nén nói trên vào 01 (một) túi nilon trong suốt, miệng túi có khóa zip có viền màu đỏ và niêm phong trong phong bì ký hiệu M1 để gửi giám định.
  • + 02 (hai) túi nilon trong suốt, miệng túi có khóa zip có viền màu xanh, bên trong mỗi túi đều có chứa tinh thể màu trắng nghi là chất ma túy. Tiến hành cân riêng số chất tinh thể màu trắng nói trên có khối lượng là 1,595g (một phẩy năm chín năm gam), sau khi cân đã cho toàn bộ số chất tinh thể màu trắng nói trên vào 01 (một) túi nilon trong suốt, miệng túi có khóa zip có viền màu đỏ và niêm phong trong phong bì ký hiệu M2 để gửi giám định.

Vỏ phong bì ký hiệu T1, giấy gói, nilon cũ được niêm phong vào trong phong bì ký hiệu M3 bảo quản theo quy định.

Tại Bản kết luận giám định số 43/KL - KTHS ngày 10/01/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận:

  • - Mẫu 12 (mười hai) viên nén hình lục giác màu trắng trong phong bì ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy; loại MDMA, có tên khoa học là: (+) – N − α dimethyl - 3,4 – (methylenedioxy) phenethylamine, được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất.
  • - Mẫu chất tinh thể màu trắng trong phong bì ký hiệu M2 gửi giám định là ma túy; loại KETAMIN, có tên khoa học là: (+) – 2 (2- Chlorophenyl)-2-methylaminocyclohexanone, được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất.
  • - Mẫu 12 (mười hai) viên nén hình lục giác màu trắng trong phong bì ký hiệu M1 có khối lượng là: 5,243g (năm phẩy hai bốn ba gam).
  • - Mẫu chất tinh thể màu trắng trong phong bì ký hiệu M2 có khối lượng là: 1,595g (một phẩy năm chín năm gam).

Sau giám định, mẫu chất trong phong bì ký hiệu M1 còn lại 4,632g (bốn phẩy sáu ba hai gam), mẫu chất trong phong bì ký hiệu M2 còn lại 1,350g (một phẩy ba năm không gam) cùng toàn bộ phong bì, bao gói cũ niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T35 hoàn trả lại cho cơ quan trưng câu.

Tại Cơ quan điều tra, Hà Quang T và Trần Văn H khai nhận: Hà Quang T và Trần Văn H đều quen biết nhau vì cùng làm nghề lái xe taxi của Công ty trách nhiệm hữu hạn D1 (hãng taxi B1) có trụ sở tại tổ F, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Vào khoảng 20 giờ ngày 03/01/2024, sau khi Trần Văn H điều khiển xe ô tô taxi nhãn hiệu GRAND I10, biển kiểm soát 20A - 254.23 chở khách từ thành phố T đi thành phố B và quay về nhà tại cơ sở SPA “Dưỡng Sinh” của gia đình Trần Văn H (thời điểm đó thuê ở tại tổ A, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên để nghỉ ngơi). Trong khi Trần Văn H đang ở nhà thì có một người thanh niên mà H hay gọi là “Cu Đen” (không rõ họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) gọi điện thoại đến số 0375.591.xxx của Trần Văn H và bảo Trần Văn H ra ngã tư cầu G gần khu vực đèn xanh, đèn đỏ đón. Trần Văn H đồng ý rồi điều khiển xe ô tô taxi nhãn hiệu GRAND I10 mang BKS 20A - 254.23 đến khu vực ngã tư cầu G gần khu vực đèn xanh, đèn đỏ, gần Tổ quốc ghi C thuộc tổ H, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên thì thấy người thanh niên tên “Cu Đen” đang đứng chờ ở đó. Lúc này, Trần Văn H hạ kính xe ô tô xuống để cùng “Cu Đen” trao đổi, nói chuyện với nhau, tiếp đó người thanh niên tên “Cu Đen” bảo Trần Văn H ghi số điện thoại 0333.007.xxx (là số điện thoại của khách nhận ma túy tại Bắc Kạn), đồng thời đưa cho Trần Văn H 01 (một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng và nói cho H biết bên trong có chứa chất ma tuý rồi bảo Trần Văn H là đưa lên trên thành phố B, tỉnh Bắc Kạn cho khách rồi cầm 7.600.000đ (bảy triệu sáu trăm nghìn đồng) tiền mặt về cho “Cu Đen” rồi người có tên “Cu Đen” sẽ cho thêm H vài trăm nghìn (không nói rõ số tiền cụ thể). Sau khi người thanh niên “Cu Đen” bỏ đi. Do Trần Văn H vừa chở khách lên Bắc Kạn quay về nên mệt, đồng thời lo sợ việc vận chuyển trái phép chất ma túy sẽ bị bắt nên Trần Văn H gọi điện thoại cho Hà Quang T hỏi Hà Quang T tiền taxi đi Bắc Kạn thì lấy bao nhiêu tiền xe thì được T trả lời 1.100.000đ (một triệu một trăm nghìn đồng), ngay sau đó Trần Văn H bảo Hà Quang T đến vị trí của H đang đứng tại khu vực gần Tổ quốc ghi C thuộc tổ H, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Trong khi chờ Hà Quang T đến, Trần Văn H tiếp tục gọi điện thoại đến số 0333.007.xxx (đây là số điện thoại mà “Cu Đen” đưa cho Trần Văn H để liên lạc với khách ở trên Bắc Kạn nhận ma tuý), thấy người nghe điện thoại là đàn ông, qua trao đổi nói chuyện thì biết người này ở khu vực quán hát LASVEGAS trên thành phố B, người này có hỏi hết bao nhiêu tiền taxi, Trần Văn H bảo 1.100.000₫ (một triệu một trăm nghìn đồng) thì người này nói khi lên đến nơi giao hàng (ma túy) thì cầm 8.700.000₫ (tám triệu bẩy trăm nghìn đồng) về. Khoảng 05 đến 10 phút sau Hà Quang T đến gặp Trần Văn H rồi Trần Văn H vào trong xe ô tô taxi nhãn hiệu GRAND, BKS 20A - 108.64 do T điều khiển đến, Trần Văn H ngồi ở ghế phụ của xe, khi ngồi trong xe ô tô, Trần Văn H đã để 01 (một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong có chứa ma tuý đặt vào vị trí hốc cần số của xe ô tô và bảo Hà Quang T ghi số điện thoại 0333.007.xxx của khách nhận ma tuý ở trên Bắc Kạn, sau đó Trần Văn H bảo Hà Quang T đưa điện thoại của T để Trần Văn H đánh dấu vị trí bằng ứng dụng GOOGLE MAP vị trí của khách cho T biết rồi dặn T giao ma túy cho khách xong thì cầm 8.700.000đ (tám triệu bảy trăm nghìn đồng) trong đó tiền cước xe taxi của Hà Quang T là 1.100.000đ (một triệu một trăm nghìn đồng), còn 7.600.000đ (bảy triệu sáu trăm nghìn đồng) là tiền ma túy, T đưa lại cho H. Khi Trần Văn H xuống xe ô tô taxi của T, Hà Quang T tiếp tục điều khiển xe ô tô taxi nhãn hiệu GRAND, BKS 20A - 108.64 để đi lên thành phố B. Trên đường đi Hà Quang T đã cầm lấy vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng có chứa ma tuý đặt lên ô hiển thị công tơ mét trước vô lăng xe taxi của T điều khiển và tiếp tục di chuyển. Khi T đi được khoảng gần 01 giờ đồng hồ thì có số điện thoại 0333.007.xxx gọi đến cho Hà Quang T hỏi Hà Quang T là người đem hàng (ma túy) lên Bắc Kạn phải không, Hà Quang T trả lời là đang lên Bắc Kạn. Khoảng 10 phút sau, người dùng số điện thoại 0333.007.xxx gọi lại dặn Hà Quang T dừng xe ở cách quán H3 khoảng 200 - 300m. Sau đó Hà Quang T tiếp tục điều khiển xe đi đến thành phố B và dừng xe ô tô taxi ở gần quán H3 thuộc tổ A, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn rồi gọi điện cho người có số điện thoại 0333.007.xxx để thông báo việc T đã đến nơi. Ngay sau đó Hà Quang T bị tổ công tác của phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma tuý Công an tỉnh B kiểm tra và bắt quả tang cùng vật chứng.

Quá trình điều tra, Hà Quang T khai nhận nguồn gốc số ma túy bị bắt quả tang là do Trần Văn H đưa cho Hà Quang T để vận chuyển lên thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Đến ngày 24/7/2024, Trần Văn H đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đầu thú và thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.

Ngày 25/7/2024, Cơ quan điều tra tiến hành thực nghiệm điều tra về việc cho Hà Quang T và Trần Văn H xác định vị trí Trần Văn H nhận ma túy từ người có tên “Cu Đen” và xác định vị trí và diễn lại hành vi Trần Văn H đưa ma túy Hà Quang T để vận chuyển trái phép chất ma túy tại khu vực ngã tư cầu G gần khu vực đèn xanh, đèn đỏ, gần Tổ quốc ghi công thuộc tổ H, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Kết quả thực nghiệm phù hợp với diễn biến sự việc, phù hợp lời khai của Hà Quang T và Trần Văn H như đã nêu trên.

Trong quá trình điều tra, truy tố, các bị cáo Hà Quang T và Trần Văn H đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của Hà Quang T và Trần Văn H phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại Bản Cáo trạng số 60/CT-VKSTP, ngày 28 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn đã truy tố các bị cáo Hà Quang T và Trần Văn H về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 250 Bộ luật Hình sự. Điều luật có nội dung:

Điều 250. Tội vận chuyển trái phép chất ma túy.

“1. Người nào vận chuyển trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích sản xuất, mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

  • a, ...
  • c, Heroine, ...MDMA...có khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05 gam;
  • g, các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

  • a, ...
  • h, H2, C1, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR – 11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;
  • o, có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm g đến điểm n khoản này;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo theo cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Hà Quang T và Trần Văn H phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

-Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 250; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hà Quang T và Trần Văn H.

Đề nghị xử phạt bị cáo Hà Quang T từ 07 đến 08 năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 04/01/2024.

Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn H từ 07 đến 08 năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 24/7/2024.

Hình phạt bổ sung: Đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

-Tịch thu tiêu hủy:

  • + 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T35, mặt trước phong bì có dòng chữ: “Mẫu hoàn trả sau giám định vụ vận chuyển trái phép chất ma túy của Hà Quang T (2002), nơi thường trú: Tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên vào ngày 03/01/2024”, mặt sau phong bì có 03 (ba) chữ ký không đọc được và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Phòng K2 Công an tỉnh B. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn.
  • + 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu M3, mặt sau phong bì có 07 (bảy) chữ ký không đọc được, 01 (một) dòng chữ Hà Quang T và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn.
  • + 01 (một) xác sim số thuê bao 0363.846.328.

- Tịch thu hóa giá sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6S màu trắng hồng đã qua sử dụng (loại màn hình cảm ứng), điện thoại có số IMEI: 355420075318072.

- Tạm giữ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 8 PLUS màu trắng hồng đã qua sử dụng (loại màn hình cảm ứng), điện thoại có số IMEI: 352993096700084 bên trong điện thoại lắp 01 (một) sim số thuê bao 0879.168.607, để bảo đảm thi hành án cho bị cáo Hà Quang T.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố B và Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Hà Quang T và Trần Văn H, mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh;
  • - VKSND TPBK;
  • - Công an TPBK;
  • - Chi cục THADS TPBK;
  • - Sở tư pháp;
  • - Các bị cáo;
  • - Người có QL,NVLQ;
  • - Lưu hồ sơ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Nguyệt Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2024/HSST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN về vận chuyển trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 75/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hà Quang Th và Trần Văn H phạm tội "Vận chuyển trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger