|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG TỈNH LẠNG SƠN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 75/2024/HS-ST Ngày 17-9-2024 |
- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Triệu Thị Máy.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Đình Tư;
Bà Lương Thị Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Triệu Tuấn Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nông Văn Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 72/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Nông Văn T, sinh ngày 26 tháng 3 năm 1990, tại huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nơi cư trú: Thôn K, xã B, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Văn M và bà Mã Thị C; chưa có vợ, con; tiền sự: Không; có 01 tiền án, nhân thân: Theo Bản án số 25/2016/HSST, ngày 11/5/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn, xét xử về tội Đánh bạc được miễn trách nhiệm hình sự, đã chấp hành xong án phí (đã được xóa án tích); theo Bản án số 32/2022/HSST, ngày 30/5/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn, xử phạt 01 năm 04 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, (chưa được xóa án tích); bị bắt tạm giữ ngày 03/5/2024, tạm giam ngày 09/5/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn đến nay. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Chu Thế V, Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. Có mặt.
- Người làm chứng: Anh Mông Văn T1. Vắng mặt.
- Người chứng kiến: Ông Hoàng Đức P. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 03/5/2024, tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma tuý Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn, phối hợp với Công an xã B đang làm nhiệm vụ, tại khu vực cây xăng thuộc khu D, thị trấn N, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, phát hiện một người đàn ông đang đi bộ có biểu hiện vi phạm pháp luật. Tổ công tác tiến hành kiểm tra, người đàn ông chấp hành, trình bày không mang theo giấy tờ tuỳ thân và tự khai họ tên là Nông Văn T. Qua kiểm tra, phát hiện trong túi áo khoác bên trái đang mặc trên người của Nông Văn T có 01 (một) túi nilon màu hồng, bên trong có chứa các cục, chất bột màu trắng, nghi là chất ma túy Heroin. Nông Văn T khai nhận: 01 (một) túi nilon màu hồng, bên trong có chứa các cục, chất bột màu trắng, là chất ma túy Heroin của Nông Văn T mua về mục đích để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời. Tổ công tác đã đưa Nông Văn T cùng tang vật về trụ sở Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 21 giờ 00 phút ngày 03/5/2024.
Tài liệu, đồ vật thu giữ, tạm giữ gồm: 01 (một) túi nilon màu hồng, bên trong có chứa các cục, chất bột màu trắng, nghi là chất ma túy Heroin, được niêm phong trong 01 phong bì thư ghi chữ (QT Nông Văn T).
Cùng ngày cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn, đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nông Văn T, tại thôn K, xã B, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Qua khám xét thu giữ đồ vật, tài liệu gồm: 01 (một) quyển vở ô ly, bên trong có nhiều trang giấy bị cắt dở; 01 (một) mẩu giấy bạc, thu giữ trên giường trong phòng khách; 01 (một) bơm kim tiêm, chưa qua sử dụng, thu giữ trên giường trong phòng ngủ; 04 (bốn) bơm kim tiêm chưa qua sử dụng, thu giữ trong túi quần phía trước bên phải, treo trong phòng ngủ.
Tại Kết luận giám định số 546/KL-KTHS ngày 08/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Các cục, chất bột màu trắng trong 01 (một) túi nilon màu hồng gửi giám định đều là chất ma túy Heroin, có tổng khối lượng 5,368 gam (đã trừ bì).
Tại cơ quan điều tra, Nông Văn T khai nhận: Khoảng 20 giờ ngày 03/5/2024, Nông Văn T một mình đi đến khu vực ngã ba đổi tiền, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, mua 2.000.000 (hai triệu) đồng ma túy, với một người đàn ông khoảng 40 tuổi (không biết họ tên, địa chỉ) người đàn ông cầm tiền và bảo Nông Văn T đợi, rồi điều khiển xe đi được khoảng 15 phút sau quay lại, đưa cho Nông Văn T 01 (một) túi nilon màu hồng, bên trong có chứa cục, chất bột H, Nông Văn T cầm 01 (một) túi nilon màu hồng, bên trong chứa cục, chất bột Heroin cất vào túi áo khoác. Sau đó Nông Văn T đón xe khách đi về đến cây xăng M1 thuộc khu D, thị trấn N, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, xuống xe để đi về nhà, thì bị Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang.
Tại bản Cáo trạng số 76/CT-VKS ngày 22/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Nông Văn T ra trước Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn để xét xử bị cáo Nông Văn T về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Nông Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình, như Cáo trạng đã nêu. Bị cáo thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, tỏ ra ăn năn hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa, vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo Nông Văn T và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nông Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; Điều 50; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nông Văn T mức án từ 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản gì, gia đình thuộc hộ nghèo. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung, là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định và các vỏ bao gói cũ và 01 (một) quyển vở ô ly, bên trong có nhiều trang giấy bị cắt dở; 01 (một) mẩu giấy bạc; 05 (một) bơm kim tiêm, chưa qua sử dụng.
Đối với số tiền 400.000 (bốn trăm nghìn) đồng, là tiền bán ma túy cho Mông Văn T1 mà có, ngày 03/5/2024 bị cáo đã sử dụng số tiền này để đi mua ma túy, đề nghị không truy thu.
Về án phí: Bị cáo có đơn xin miễn án phí và thuộc trường hợp được miễn án phí, đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Ý kiến người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa, nhất trí với tội danh mà Viện kiểm sát truy tố, về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo sinh sống ở vùng có kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo với mức án thấp nhất của Viện kiểm sát đề nghị. Bị cáo không có tài sản gì, gia đình thuộc hộ nghèo, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; bị cáo có đơn xin miễn án phí, đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
-
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Người bào chữa cho bị cáo đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
-
[2] Tại phiên tòa bị cáo Nông Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 17 giờ ngày 16/4/2024, bị cáo Nông Văn T đến khu vực ngã ba đổi tiền, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, mua ma túy với một người đàn ông không rõ họ tên, địa chỉ, 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng, được 03 gói ma túy, bị cáo mang về nhà và đã sử dụng 01 gói bằng hình thức chích. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày bị cáo Nông Văn T bán cho Mông Văn T1 02 gói với giá 400.000 (bố trăm nghìn) đồng, địa điểm bán ma túy tại nhà ở của bị cáo. Ngày 03/5/2024, bị cáo Nông Văn T tiếp tục đến khu vực ngã ba đổi tiền, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, mua ma túy với một người đàn ông không rõ họ tên, địa chỉ, 2.000.000 (hai triệu) đồng, được 01 túi nilon màu hồng, bên trong có chứa cục, chất bột màu trắng là ma túy Heroin, mang về chưa kịp bán thì bắt quả tang. Qua giám định là chất ma túy Heroin, có khối lượng 5,368 gam (đã trừ bì). Do đó, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nông Văn T đã phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định của Bộ luật Hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Nông Văn T về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
-
[3] Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng muốn có ma túy để sử dụng, nên bị cáo đã cố ý thực hiện.
-
[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biết khó khăn, nhận thức pháp luật có phần hạn chế, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
-
[5] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có tình tiết tăng nặng là tái phạm, theo quy định tại điểm h Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
-
[6] Về nhân thân: Bị cáo đã bị kết án, theo Bản án số 25/2016/HSST, ngày 11/5/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn, xét xử về tội Đánh bạc được miễn trách nhiệm hình sự, đã chấp hành xong án phí (đã được xóa án tích); theo Bản án số 32/2022/HSST, ngày 30/5/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn, xử phạt 01 năm 04 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, (chưa được xóa án tích).
-
[7] Về hình phạt chính: Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm, các tình tiết tăng nặng và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra là rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương và xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, tiếp tay làm lan truyền tệ nạn nghiện hút ma túy, bị cáo bán ma túy tại nhà ở của bị cáo, gây nguy hại rất lớn cho xã hội về nhiều mặt, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Hành vi phạm tội của bị cáo bị nhân dân lên án mạnh mẽ và bị pháp luật nghiêm cấm. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa giáo dục chung.
-
[8] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào kết quả xác minh có trong hồ sơ vụ án cho thấy bị cáo không có tài sản gì, gia đình thuộc hộ nghèo. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung, là phạt tiền đối với bị cáo.
-
[9] Đối với người đàn ông khoảng 40 tuổi bán ma túy cho bị cáo tại khu vực ngã ba đổi tiền, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Nhưng bị cáo không biết họ tên địa chỉ cụ thể của người đàn ông trên, nên cơ quan điều tra không tiến hành xác minh làm rõ được.
-
[10] Đối với anh Mông Văn T1, mua ma túy với bị cáo số ma túy đã sử dụng hết. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn đã tách và chuyển hồ sơ đến Ủy ban nhân dân xã nơi đối tượng cư trú, để đưa vào diện quản lý giáo dục theo quy định của pháp luật.
-
[11] Về vật chứng của vụ án Hội đồng xét xử xét thấy: Đối với số ma túy hoàn lại sau giám định, niêm phong trong 01 (một) phong ghi chữ “QT Nông Văn T” cũ, có chữ ký cùng tên của giám định viên Bùi Anh T2, trợ lý giám định và các hình dấu của phòng K tại các phần giáp lai mới, bên trong có 01 (một) gói giấy đựng tổng cộng 5,256 gam chất ma túy Heroin (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và các vỏ bao gói (cũ), là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, tịch thu tiêu hủy; đối với 01 (một) quyển vở ô ly, bên trong có nhiều trang giấy bị cắt dở; 01 (một) mẩu giấy bạc; 05 (năm) bơm kim tiêm chưa qua sử dụng, là vật không có giá trị, tịch thu tiêu hủy.
-
[12] Đối với số tiền 400.000 (bốn trăm nghìn) đồng, là tiền bán ma túy cho Mông Văn T1 mà có, ngày 03/5/2024 bị cáo đã sử dụng số tiền trên đi mua ma túy, nên không truy thu.
-
[13] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, đề nghị mức án đối với bị cáo, xử lý vật chứng là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, nên được chấp nhận.
-
[14] Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa, đề nghị các tình tiết giảm nhẹ là bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo sinh sống ở vùng điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật có phần hạn chế, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo với mức án thấp nhất của Viện kiểm sát đề nghị cũng phù hợp. Hội xét xử sẽ xem xét và quyết định.
-
[15] Về án phí: Bị cáo bị kết án, phải chịu án phí hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc hộ nghèo, bị cáo có đơn xin miễn án phí theo quy định tại Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nên miễn án phí hình sự cho bị cáo.
-
[16] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm i khoản 2 Điều 251; Điều 50; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
-
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn T phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
-
Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nông Văn T 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/5/2024.
-
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
-
Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu, tiêu hủy gồm: Số ma túy hoàn lại sau giám định, niêm phong trong 01 (một) phong ghi chữ “QT Nông Văn T” cũ, có chữ ký cùng tên của giám định viên Bùi Anh T2, trợ lý giám định và các hình dấu của phòng K tại các phần giáp lai mới, bên trong có 01 (một) gói giấy đựng tổng cộng 5,256 gam chất ma túy Heroin (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và các vỏ bao gói (cũ); 01 (một) quyển vở ô ly, bên trong có nhiều trang giấy bị cắt dở; 01 (một) mẩu giấy bạc; 05 (năm) bơm kim tiêm chưa qua sử dụng.
(Các vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26/8/2024)
-
Về án phí: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nông Văn T.
-
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Triệu Thị Máy |
7
8
Bản án số 75/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 75/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nông Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
