Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ S

TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 85/2024/HS-ST

Ngày 17 - 6 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ S, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lò Thị Mai Hương
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • Bà Quàng Thị Kim
    • Ông Cà Văn Thanh
  • - Thư ký phiên toà: Bà Cà Thị Giang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà:
    • Ông Nguyễn Long Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố S, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 85/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Lò Văn Q (tên gọi khác: Không), sinh ngày: 01 tháng 4 năm 1997 tại huyện T, tỉnh Sơn La; nơi đăng ký HKTT và nơi ở hiện nay: Bản M, xã M, huyện T, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đoàn thể, đảng phái: Không; con ông Lò Văn T (sinh năm 1975) và con bà Lò Thị Q1 (sinh năm 1976); bị cáo có vợ là Lò Thị M (sinh năm 1997) và 02 con, con lớn nhất sinh năm 2016, con nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/02/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 23/02/2024, tổ công tác Công an thành phố S làm nhiệm vụ tại khu vực gần ngã ba giao giữa đường Tđường Cách mạng tháng 8 thuộc tổ F, phường T, thành phố S phát hiện bắt quả tang Lò Văn Q, sinh năm 1997, đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) gói giấy bạc, bên trong có chứa 04 viên nén đồng dạng màu hồng, Q khai là ma túy Hồng phiến, cất giữ để sử dụng.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La tiến hành bóc mở niêm phong, tách bì, cân tịnh và xác định khối lượng vật chứng. Kết quả: 04 viên nén đồng dạng màu hồng trong gói giấy bạc có tổng khối lượng là 0,41 gam, lấy 02 viên có khối lượng 0,21 gam làm mẫu giám định ký hiệu Q. Còn lại 02 viên có tổng khối lượng là 0,20 gam ký hiệu L niêm phong làm mẫu lưu kho.

Tại Kết luận giám định số: 566/KL-KTHS ngày 26/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu Q là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,21 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,41 gam; loại Methamphetamine, mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định”.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn Q khai nhận: Do nghiện ma túy, khoảng 16 giờ 00 phút ngày 23/02/2024, Lò Văn Q đi xe buýt từ nhà tại bản M, xã M, huyện T, tỉnh Sơn La đến thành phố S mục đích là đi đến khu vực sân bóng bản Dửn, xã C, thành phố S để tìm mua ma túy sử dụng. Khi xe buýt đi đến Ngã ba K thuộc thành phố S, Q xuống xe buýt và đi bộ tới khu vực khuân viên đối diện Cơ quan Phòng cháy chữa cháy và cứu hộ cứu nạn – Công an tỉnh S, tại đây Q gặp và hỏi mua được của một người nam giới có dáng cao, gầy (Q không biết họ tên, tuổi, địa chỉ) một gói giấy bạc bên trong có chứa 04 (bốn) viên nén đồng dạng màu hồng với giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Sau khi mua, Q cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ tìm nơi sử dụng thì bị Công an phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Thực hiện điều tra xác minh đối với người nam giới đã bán trái phép chất ma túy cho Lò Văn Q nhưng không có cơ sở để mở rộng điều tra vụ án.

Tại bản cáo trạng số: 170/CT-VKS ngày 21/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La truy tố bị cáo Lò Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” là đúng người, đúng tội.

Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Lò Văn Q từ 14 (mười bốn) đến 18 (mười tán) tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu và tiêu huỷ: 01 vỏ

phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy bạc và 0,20 (không phẩy hai mươi) gam Methamphetamine ký hiệu L.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến gì đối đáp với đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người khác không có ý kiến, khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 23/02/2024, Lò Văn Q đã có hành vi cất giữ trái phép 0,41 gam Methamphetamine, hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng: Lời khai nhận tội của bị cáo; biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 18 giờ 15 phút ngày 23/02/2024 tại tổ F, phường T, thành phố S, tỉnh Sơn La đối với Lò Văn Q cùng vật chứng thu giữ là 01 gói giấy bạc, bên trong có chứa 04 (bốn) viên nén đồng dạng màu hồng, Q khai là ma túy Hồng phiến; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Kết luận giám định số 566/KL-KTHS ngày 26/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh S; lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của anh Trương Hoàng D, sinh năm 1995, trú tại tổ C, phường T, thành phố S, tỉnh Sơn La, là người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang.

Từ các căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lò Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[3] Về tính chất mức độ của hành vi: Bị cáo Lò Văn Q phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy với tổng khối lượng là 0,41 gam, loại Methamphetamine, đã vi phạm vào tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, khung hình phạt có mức phạt tù từ 01 năm đến 05 năm và thuộc loại tội phạm nghiêm trọng.

Hành vi vi phạm của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ hành vi

và nhân thân của bị cáo, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhằm đảm bảo biện pháp cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, có trình độ văn hóa thấp, hiểu biết pháp luật còn hạn chế, ngoài ra, bị cáo có ông nội được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Ba, ông ngoại và bà ngoại được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhì, do đó cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, bản thân bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, xét việc áp dụng hình phạt bổ sung không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về biện pháp ngăn chặn: Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm việc thi hành án; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/02/2024 được xem xét khấu trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù.

[8] Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo khai mua được của một người nam giới có dáng người gầy, cao, Q không biết tên tuổi, địa chỉ tại khu vực khuân viên đối diện cơ quan Phòng cháy chữa cháy và cứu hộ cứu nạn – Công an tỉnh S. Ngoài lời khai của bị cáo, cơ quan chức năng đã tiến hành điều tra xác minh, nhưng không thu thập được tài liệu chứng cứ gì, do đó buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự toàn bộ đối với số ma túy bị thu giữ.

[9] Vật chứng của vụ án: Đối với 0,20 gam Methamphetamine ký hiệu L hiện đang lưu kho vật chứng, là vật cấm tàng trữ, lưu hành; 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở và 01 mảnh giấy bạc, là vật chứng không có giá trị sử dụng, cần tịch thu và tiêu hủy.

[10] Về án phí: Do bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên cần miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn Q.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Lò Văn Q 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 23/02/2024).

Không áp dụng hình phạt bổ sung – phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu và tiêu hủy: 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy bạc và 0,20 (không phẩy hai mươi) gam Methamphetamine ký hiệu L (được niêm phong trong 01 phong bì công văn có dán giấy niêm phong số 042467 của Công an thành phố S).

(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/5/2024 giữa Công an thành phố S và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn Q.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 17/6/2024).

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA
PHIÊN TÒA

Quàng Thị Kim

Cà Văn Thanh

Lò Thị Mai Hương

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - Sở tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - VKSND thành phố Sơn La;
  • - Công an thành phố Sơn La;
  • - Chi cục THA dân sự thành phố Sơn La;
  • - Bị cáo;
  • - THAHS;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lò Thị Mai Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2024/HS-ST ngày 17/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ S, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 85/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ S, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án số 75/2024/HS-ST ngày 17/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger