|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 75/2024/HS-ST
Ngày 17 tháng 4 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Tú
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Vượng
Bà Hoàng Thị Hồng
Thư ký phiên toà: Ông Lê Hoàng Tùng-Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Bắc Giang.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Trần Ngọc Nam và ông Nguyễn Mạnh- Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2024 tại Điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang; Điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B.
Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 64/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2024/QĐXXST- HS ngày 03/4/2024 đối với bị cáo:
Hà Việt H, sinh năm 1998; Tên gọi khác không.
Nơi cư trú: Số nhà A, phố C, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Giới tính: Nam. Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 9/12. Bố: Hà Thành T, sinh năm 1974. Mẹ: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1975. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ hai. Vợ: Nguyễn Thị Kiều O, sinh năm 1998. Có 02 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2020. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 30/01/2019 Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng. Chấp hành xong ngày 13/5/2020.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/12/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B - Có mặt.
* Bị hại: Anh Nguyễn Thanh N, sinh năm 1989 (có mặt)
Địa chỉ: số nhà I, ngõ B, đường G, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Mạnh H2, sinh năm 1995(vắng mặt).
- Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1975(có mặt)
- Anh Nguyễn Tiến P, sinh năm 1995(vắng mặt).
- Anh Nguyễn Văn H3, sinh năm 1991(vắng mặt).
- Anh Nguyễn Trung H4, sinh năm 1995(vắng mặt).
- Anh Trần Văn D, sinh năm 1997 (vắng mặt).
- Anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1993(vắng mặt).
- Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1991 (vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Số nhà H, đường H, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Số nhà F, đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Số nhà B, đường T, tổ F, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Số nhà A, đường T, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Số nhà E, đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Số nhà A, đường T, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Tổ dân phố P, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hà Việt H, sinh năm 1998, trú tại số nhà A, phố C, xã D, thành phố B dùng thủ đoạn thuê xe mô tô rồi mang đi cầm cố lấy tiền chi tiêu. Bằng thủ đoạn nêu trên từ ngày 18/10/2023 đến ngày 24/10/2023, H đã hai lần lừa đảo chiếm đoạt 02 chiếc xe mô tô tổng trị giá 60.000.000 đồng của anh Nguyễn Thanh N, sinh năm 1989, trú tại số nhà I, ngõ B, đường G, phường D, thành phố B, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất:
Buổi chiều ngày 18/10/2023, Hà Việt H gọi điện thoại cho bạn là Nguyễn Văn H3, sinh năm 1992, trú tại số nhà B, đường T, tổ F, phường T, thành phố B hỏi địa điểm cho vay tiền thì anh H3 nói “giờ không có ai cho vay đâu, chỉ cho thuê xe thôi”. Theo H khai hai người hẹn gặp nhau tại quán trà đá cạnh sân bóng Q, phường H, thành phố B; anh H3 nói cho H biết việc anh Nguyễn Thanh N, sinh năm 1989, trú tại số nhà I, ngõ B, đường G, phường D, thành phố B có chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade cho thuê với giá 300.000 đồng/ngày, nếu muốn thuê thì phải trả trước tiền thuê xe 10 ngày. H nhờ anh H3 chở đến nhà anh N. Khi đến nơi, anh H3 đứng bên ngoài còn H một mình đi vào trong nhà gặp anh N đặt vấn đề thuê xe mô tô. Anh N đưa cho H 01 tờ “Hợp đồng thuê xe máy” theo mẫu in sẵn để H viết thông tin và ký vào phần bên thuê. Tại hợp đồng này, H thuê của anh N chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, biển kiểm soát 98B1-709.81 với giá 300.000 đồng/1 ngày, thời hạn thuê đến ngày 27/10/2023. Anh N yêu cầu thanh toán trước tiền thuê xe là 3.000.000 đồng thì H hẹn sẽ chuyển khoản sau. Anh N đồng ý và giao cho H chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98B1-709.81 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Nguyễn Thanh N.
Sau khi thuê được xe, H điều khiển xe đi đến nhà bạn là Nguyễn Trung H4, sinh năm 1995 ở số A, đường T, phường T, thành phố B đặt vấn đề cầm cố chiếc xe trên nhưng anh H4 không nhận cầm cố. H hỏi vay anh H4 3.000.000 đồng để trả tiền thuê xe, anh H4 đồng ý và chuyển khoản 3.000.000 đồng cho H vay. H chuyển khoản số tiền trên cho anh N để trả tiền thuê xe. H nhờ anh H4 giúp tìm người nhận cắm xe. Anh H4 gọi điện cho anh Nguyễn Tiến P, sinh năm 1995, trú tại số nhà F, đường N, phường T, thành phố B đến nhà anh H4 xem xe. H nói với anh P là xe của H mua lại của người khác. Anh P đồng ý nhận cầm cố vào bảo Hoàng đi xe về nhà anh P làm hợp đồng. Tại đây, H và anh P thoả thuận cầm cố xe với giá 10.000.000 đồng trong thời hạn 10 ngày, tiền lãi là 1.000.000 đồng. Anh P đưa cho H 01 tờ “giấy cam kết bán xe” theo mẫu in sẵn. H viết vào giấy cam kết có nội dung H bán chiếc xe mô tô Honda Airblade biển kiểm soát 98B1-709.81 cho anh P với giá 10.000.000 đồng rồi ký xác nhận vào mục người bán xe. H giao cho anh P chiếc xe mô tô, đăng ký xe, giấy cam kết bán xe và được anh P chuyển khoản 10.000.000 đồng đến số tài khoản 0364988682 của H mở tại ngân hàng M. Sau đó, H đã chuyển khoản 4.000.000 đồng cho anh H4 (gồm 3.000.000 đồng vay anh H4 trước đó và 1.000.000 đồng trả tiền lãi cho anh P). Số tiền còn lại, H sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Sau khi hết thời hạn cầm cố nhưng H không đến chuộc xe nên anh P đã bán chiếc xe mô tô này cho người không quen biết với giá 12.000.000 đồng nên không thu hồi được.
Kết luận định giá tài sản số 253 ngày 11/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade biển số 98B1-709.81, số máy 4039742, số khung 218883, đăng ký lần đầu ngày 25/3/2013, xe đã qua sử dụng, có trị giá tại thời điểm ngày 18/10/2023 là 12.000.000 đồng.
Cơ quan điều tra cho anh Nguyễn Tiến P nhận dạng ảnh Hà Việt H. Kết quả anh P nhận đúng ảnh và xác định H đã bán chiếc xe máy BKS 98B1-709.81 cho anh P vào ngày 18/10/2023.
Trong quá trình điều tra, Hà Việt H khai được anh Nguyễn Văn H3 giúp giới thiệu với anh Nguyễn Thanh N để thuê xe nhưng anh H3 không thừa nhận; anh N khai chỉ cho H thuê xe, không giao dịch, liên lạc với anh H3. Cơ quan điều tra đã cho H đối chất với anh N và đối chất với anh H3 nhưng các bên giữ nguyên lời khai. Do vậy không có đủ cơ sở xác định anh Hải giới t H thuê xe như H khai.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Thanh N yêu cầu Hà Việt H bồi thường 12.000.000 đồng, H chưa bồi thường.
Vụ thứ hai:
Ngày 23/10/2023 sau khi chi tiêu hết tiền cầm cố chiếc xe trên, H tiếp tục nảy sinh ý định thuê xe mô tô để mang đi cầm cố lấy tiền. Theo H khai gọi điện cho anh Nguyễn Văn H3 hỏi chỗ thuê xe thì được anh H3 cho biết anh Nguyễn Thanh N có chiếc xe nhãn hiệu SH mới được khách trả và cho H số điện thoại của Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1993, trú tại số nhà A, đường T, phường T, thành phố B để thoả thuận giá thuê. H điện thoại cho Tuấn A sau đó hai người thoả thuận thống nhất thuê xe với giá 600.000 đồng/ngày, đặt cọc trước 5.000.000 đồng và trả tiền thuê xe trong 10 ngày.
Buổi chiều ngày 24/10/2023, H hỏi vay bạn là Trần Văn D, sinh năm 1997, trú tại số nhà E, đường T, phường L, thành phố B 5.000.000 đồng thì anh D đồng ý và chuyển khoản cho H vay số tiền trên. Sau đó, H nhờ anh D đi xe máy đưa đến nhà anh N. Khi đến nơi, anh D đứng chờ bên ngoài còn H đi vào trong nhà gặp anh N. Theo H khai nói với anh N “bây giờ em thuê xe SH đi cầm, em chỉ có 5.000.000 đồng để đặt cọc, khi cầm được sẽ chuyển nốt 6.000.000 đồng tiền thuê xe”. Anh N khai yêu cầu H đặt cọc 5.000.000 đồng và trả tiền thuê xe trong 10 ngày là 6.000.000 đồng và phải mang trả chiếc xe Airblade đã thuê trước đó thì H nói một lúc sau sẽ mang trả xe và thanh toán tiền thuê xe. Do tin tưởng nên anh N đồng ý cho H thuê xe. H chuyển khoản cho anh N 5.000.000 đồng tiền đặt cọc và viết, ký vào “Hợp đồng thuê xe máy” đề ngày 24/10/2023 có nội dung H thuê của anh N chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH125i, biển kiểm soát 98C1-222.86 với giá 600.000 đồng/ngày, thời hạn thuê đến ngày 24/11/2023. Sau khi làm hợp đồng, anh N giao cho H chiếc xe mô tô cùng giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Nguyễn Thị Hồng T3, địa chỉ G, B, Y, Bắc Giang.
Sau khi thuê được xe, H nhờ anh D tìm chỗ cầm cố xe. Anh D điện thoại cho anh Ngô Xuân T4, sinh năm 1996 hiện trú tại TDP H, phường H, thị xã V là người quen thì được anh T4 giới thiệu gặp Nguyễn Mạnh H2, sinh năm 1995, trú tại tổ dân phố Đ, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang và cho số điện thoại của anh H2. Sau khi liên lạc, anh H2 hẹn gặp H tại một quán nước gần UBND phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang để giao dịch. H nhờ anh D đi cùng để sau khi cầm cố xe sẽ nhờ anh D đưa về. H khai sau khi gặp nhau thì H và anh H2 thoả thuận cầm cố chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98C1-222.86 với giá 55.000.000 đồng trong thời hạn 10 ngày, lãi suất 5.000 đồng/triệu/ngày. Anh H2 do không có tiền mặt nên gọi điện thoại cho anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1991, trú tại tổ dân phố P, phường T, thị xã V nhờ đi đến quán nước chuyển khoản 55.000.000 đồng đến tài khoản ngân hàng M, số tài khoản 0364988682 của H. Sau khi anh T2 chuyển tiền xong, H giao cho anh H2 chiếc xe mô tô và đăng ký xe. H chuyển khoản trả anh H2 3.750.000 đồng gồm 2.750.000 đồng tiền lãi trong 10 ngày và 1.000.000 đồng để bồi dưỡng vì nhận cầm cố xe. Sau đó, H chuyển khoản trả anh N 6.000.000 đồng tiền thuê xe và trả anh D 5.000.000 đồng đã vay trước đó. Số tiền còn lại, H chi tiêu hết.
Đến ngày 03/11/2023, H gọi điện cho anh H2 thoả thuận bán chiếc xe trên với giá 58.000.000 đồng, anh H2 chuyển khoản thêm cho H 3.000.000 đồng sau đó dùng điện thoại di động chụp lại giao dịch và nhắn tin cho H nội dung “E hoàng đã bán cho a con xe sh biển 98c 222.86 với giá tiền 58tr nhé”, H nhắn tin xác nhận “Oke anh”. Cùng ngày, anh H2 đã bán lại chiếc xe trên cho anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1975, trú tại số nhà H, đường H, phường N, thành phố B với giá 63.000.000 đồng.
Buổi tối ngày 06/11/2023, anh Nguyễn Thanh N thấy trên mạng xã hội Facebok đăng giao bán chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98C1-222.86 nên biết sự việc H bán chiếc xe máy đã thuê. Anh N làm đơn trình báo Công an thành phố B và giao nộp 02 hợp đồng thuê xe máy ghi ngày 18/10/2023 và ngày 24/10/2023.
Kết luận định giá tài sản số 253 ngày 11/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận:
Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH125i, màu sơn trắng đen bạc, biển số 98C1-222.86, số máy JF74E0045633, số khung RLHJF7310KY004229, đăng ký lần đầu ngày 13/12/2021, xe đã qua sử dụng, có trị giá tại thời điểm ngày 24/10/2023 là 48.000.000 đồng.
Trong quá trình điều tra, anh Nguyễn Mạnh H2 giao nộp: 01 hình ảnh chụp tin nhắn trao đổi có tên “H”; 01 hình ảnh chụp giao dịch chuyển khoản đến số tài khoản 0364988682. Anh Nguyễn Tiến P giao nộp 01 giấy cam kết bán xe đề ngày 18/10/2023. Anh Nguyễn Văn T1 giao nộp: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH125i BKS 98C1-222.86 kèm theo đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Thị Hồng T3, địa chỉ G, B, Y, Bắc Giang; 01 đoạn video ghi lại hình ảnh Nguyễn Mạnh H2 đến bán xe ngày 03/11/2023.
Ngày 08/12/2023, Cơ quan điều tra triệu tập Hà Việt H làm việc thì H đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết của Hà Việt H và của anh Nguyễn Thanh N trên các hợp đồng thuê xe và giấy mua bán xe đã thu giữ. Kết luận giám định số 2455 ngày 17/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
- “Chữ ký (dạng chữ viết), chữ viết trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A1, A2, A3 – trừ chữ ký, chữ viết mang tên Nguyễn Thanh N dưới mục “Đại diện bên B” trên các tài liệu cần giám định A2, A3) so với chữ ký, chữ viết của Hà Việt H trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M4 đến M6) là do cùng một người ký, viết ra.
- Chữ ký, chữ viết mang tên Nguyễn Thanh N dưới mục “Đại diện bên B” trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A2, A3) so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Thanh N trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M7, M8) là do cùng một người ký, viết ra.
Cơ quan điều tra cho anh Nguyễn Mạnh H2 nhận dạng ảnh Hà Việt H. Kết quả anh H2 nhận đúng ảnh và xác định H đã bán chiếc xe mô tô BKS 98C1-222.86 cho anh H2 vào ngày 24/10/2023.
Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại ngân hàng xác định: Số tài khoản 0364988682 ngân hàng MB mang tên Hà Việt H; số tài khoản 2514666629999 ngân hàng A1 mang tên Nguyễn Mạnh H2; số tài khoản 0731000742946 ngân hàng TMCP N2 mang tên Nguyễn Tiến P. Kết quả tra cứu lịch sử giao dịch của các tài khoản có các giao dịch chuyển tiền như trên.
Trong quá trình điều tra, Hà Việt H khai nhờ Nguyễn Tuấn A liên lạc với anh Nguyễn Thanh N để giúp thuê chiếc xe mô tô biển số 98C1-222.86; khi thuê xe thì H có nói với anh N sẽ đi cầm cố để trả tiền thuê xe. Nguyễn Tuấn A khai không có việc liên hệ giúp H thuê xe; anh N khai H trực tiếp trao đổi thuê xe, không liên quan đến Tuấn A; không có việc H nói là thuê xe để mang đi cầm cố. Cơ quan điều tra đã cho H đối chất với anh N và đối chất với Tuấn A nhưng các bên giữ nguyên lời. Ngoài lời khai của H thì không có tài liệu, chứng cứ khác nên không có căn cứ xác định anh N đồng ý cho H thuê xe đi cầm cố và Tuấn A giúp H thuê xe.
Hà Việt H khai khi cầm cố xe mô tô biển số 98C1-222.86 cho anh Nguyễn Mạnh H2 thì trả lãi 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày. H đã trả lãi trong 10 ngày là 2.750.000 đồng và cho 1.000.000 đồng để bồi dưỡng. Anh H2 khai không nhận cầm cố mà mua chiếc xe trên; số tiền 3.750.000 đồng là H chuyển khoản nhờ đổi tiền mặt. Cơ quan điều tra đã cho H và anh H2 đối chất nhưng các bên giữ nguyên lời khai.
Đối với anh Nguyễn Tiến P, Nguyễn Mạnh H2 mua xe mô tô do Hà Việt H viết giấy bán; Nguyễn Trung H4 giới thiệu cho H cầm cố xe; Trần Văn D cho H vay tiền và đưa đi cầm cố xe. Kết quả điều tra xác định những người nêu trên không đồng phạm với H và không biết tài sản là do H phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Về xử lý vật chứng: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH125i biển kiểm soát 98C1-222.86 thuộc sở hữu của anh Nguyễn Thanh N nên Cơ quan điều tra đã trả lại anh N chiếc xe mô tô trên kèm theo đăng ký xe mang tên Nguyễn Thị Hồng T3.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Mạnh H2 yêu cầu H bồi thường 58.000.000 đồng; anh Nguyễn Văn T1 yêu cầu anh H2 bồi thường 63.000.000 đồng. H chưa bồi thường.
Bản cáo trạng số 72/CT-VKS ngày 22/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố Hà Việt Hoàng về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Hà Việt H5 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Chủ tọa phiên tòa công bố lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến gì về lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Hà Việt H6 02 năm 04 tháng tù đến 02 năm 08 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” thời hạn tù tính từ ngày 08/12/2023.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự. Khoản 1 Điều 584, Điều 585, khoản 1 Điều 589 Bộ luật dân sự.
Bị cáo Hà Việt H phải bồi thường cho anh Nguyễn Thành N1 12.000.000 đồng, bồi thường cho anh Nguyễn Mạnh H2 58.000.000 đồng. Anh Nguyễn Mạnh H2 phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn T1 63.000.000 đồng.
- Án phí áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23, Điều 26 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Hà Việt Hoàng phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 3.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Anh Nguyễn Mạnh H2 phải chịu 3.150.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Phần tranh luận: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về sự vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho những người tham gia tố tụng, tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt, Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại đều đề nghị HĐXX tiếp tục xét xử vụ án. Xét thấy đã có lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có trong hồ sơ vụ án và sự vắng mặt của những người này không làm ảnh hưởng đến quá trình xét xử, HĐXX căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vụ án theo quy định.
[3]. Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và vật chứng thu giữ được có đủ cơ sở kết luận: Ngày 18/10/2023, Hà Việt H dùng thủ đoạn gian dối lập hợp đồng thuê của anh Nguyễn Thanh N ở số nhà I, ngõ B, đường G, phường D, thành phố B là chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, biển số 98B1-709.81, trị giá 12.000.000 đồng rồi mang đi cầm cố cho anh Nguyễn Tiến P ở số nhà F, đường N, phường T, thành phố B được 10.000.000 đồng. H đã thanh toán tiền thuê xe cho anh N 3.000.000 đồng. Anh P đã bán chiếc xe trên cho người không quen biết nên không thu hồi được.
Ngày 24/10/2023, Hà Việt H tiếp tục đến nhà anh Nguyễn Thanh N để thuê xe. H đặt cọc 5.000.000 đồng và hợp đồng thuê của anh N chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH125i, biển số 98C1-222.86, trị giá 48.000.000 đồng. Sau đó, H đã bán chiếc xe này cho anh Nguyễn Mạnh H2 ở phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang được 58.000.000 đồng, H thanh toán tiền thuê xe cho anh N 6.000.000 đồng. Anh H2 đã bán lại chiếc xe cho anh Nguyễn Văn T1 ở số nhà H, đường H, phường N, thành phố B. Cơ quan điều tra đã thu giữ xe mô tô trả lại cho người bị hại. Tổng trị giá tài sản Hà Việt H chiếm đoạt trong hai vụ nêu trên là 60.000.000 đồng.
Như vậy có đủ căn cứ kết luận Hà Việt H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4]. Xét về nhân thân và hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Bị cáo là người có nhân thân xấu, ngày 30/01/2019 Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng, chấp hành xong ngày 13/5/2020. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhưng không nhận thức được việc làm của mình đã dùng thủ đoạn gian dối đưa ra thông tin sai sự thật, mục đích để chiếm đoạt tài sản của bị hại đem đi bán lấy tiền chi tiêu cá nhân, chứng tỏ bị cáo là người coi thường pháp luật, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất ổn định về trật tự an ninh tại địa phương. Vì vậy cần có mức hình phạt tù nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để dụng giáo dục riêng đối với bị cáo, vừa có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung cho xã hội.
[5]. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[6]. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đầu thú trước cơ quan pháp luật nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[7]. Về phần trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa bị hại là anh Nguyễn Thành N1 yêu cầu bị cáo bồi thường chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, biển số 98B1-709.81, trị giá 12.000.000 đồng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Mạnh H2 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 58.000.000 đồng. Anh Nguyễn Văn T5 cầu anh Nguyễn Mạnh H2 phải bồi thường số tiền 63.000.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo nhất trí bồi thường số tiền trên cho bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Xét yêu cầu trên của bị hại và của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là có căn cứ cần được chấp nhận.
[8]. Trong quá trình điều tra vụ án, Hà Việt H khai nhờ Nguyễn Tuấn A liên lạc với anh Nguyễn Thanh N để giúp thuê chiếc xe mô tô biển số 98C1-222.86; khi thuê xe thì H có nói với anh N sẽ đi cầm cố để trả tiền thuê xe. Nguyễn Tuấn A khai không có việc liên hệ giúp H thuê xe; anh N khai H trực tiếp trao đổi thuê xe, không liên quan đến Tuấn A; không có việc H nói thuê xe để mang đi cầm cố. Cơ quan điều tra đã cho H đối chất với anh N và đối chất với Tuấn A nhưng các bên giữ nguyên lời khai. Ngoài lời khai của H thì không có tài liệu, chứng cứ khác nên không có căn cứ xác định anh N đồng ý cho H thuê xe đi cầm cố và Tuấn A giúp H thuê xe.
[9]. Hà Việt H khai khi cầm cố xe mô tô biển số 98C1-222.86 cho anh Nguyễn Mạnh H2 thì trả lãi 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày. H đã trả lãi trong 10 ngày là 2.750.000 đồng và cho 1.000.000 đồng để bồi dưỡng. Anh H2 khai không nhận cầm cố mà mua chiếc xe trên; số tiền 3.750.000 đồng là H chuyển khoản nhờ đổi tiền mặt. Cơ quan điều tra đã cho các bên đối chất nhưng các bên giữ nguyên lời khai, do vậy không có căn cứ để giải quyết.
[10]. Đối với anh Nguyễn Tiến P, Nguyễn Mạnh H2 mua xe mô tô do Hà Việt H viết giấy bán; Nguyễn Trung H4 giới thiệu cho H cầm cố xe; Trần Văn D cho H vay tiền và đưa đi cầm cố xe. Kết quả điều tra xác định những người trên không đồng phạm với H và không biết tài sản là do H phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.
[11]. Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại anh Nguyễn Thanh N chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH125i biển kiểm soát 98C1-222.86 và đăng ký xe mang tên Nguyễn Thị Hồng T3, do vậy không đặt ra giải quyết.
[12]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có điều kiện để nộp phạt bổ sung bằng tiền, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[13]. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 3.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Anh Nguyễn Mạnh H2 phải chịu 3.150.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[14]. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự. Khoản 1 Điều 584, Điều 585, khoản 1 Điều 589 Bộ luật dân sự. Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23, Điều 26 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử phạt bị cáo Hà Việt H 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” thời hạn tù tính từ ngày 08/12/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
2. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Hà Việt H phải bồi thường cho anh Nguyễn Thành N1 12.000.000 đồng, bồi thường cho anh Nguyễn Mạnh H2 58.000.000 đồng. Anh Nguyễn Mạnh H2 phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn T1 63.000.000 đồng.
3. Về án phí: Bị cáo Hà Việt H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 3.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Anh Nguyễn Mạnh H2 phải chịu 3.150.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Tú |
Bản án số 75/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 75/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
