Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2024/HS-ST

Ngày: 16-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Hiếu

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Đặng Khắc Di;
  • 2. Ông Đỗ Tiến Bình.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Trúc Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Cao Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 85/2024/HSST ngày 03 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

NGUYỄN H

- sinh năm 1985 tại Long An; nơi đăng ký thường trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Long An; nơi cư trú: Không nơi ở nhất định; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn L, đã chết; con bà: Nguyễn Thị D, sinh năm: 1962; vợ, con: không có;

Tiền án:

  • - Ngày 14/10/2008, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo Bản án số 592/2008/HSST, chấp hành xong án phạt tù ngày 12/02/2009;
  • - Ngày 10/8/2009, Tòa án nhân dân Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 434/2009/HSST, chấp hành xong án phạt tù ngày 10/01/2010;
  • - Ngày 30/11/2011, Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 284/2011/HSST, chấp hành xong án phạt tù ngày 04/02/2013;
  • - Ngày 19/11/2013, Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An xử phạt 03 năm tù, về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, theo Bản án số 25/2013/HSST, chấp hành xong án phạt tù ngày 19/7/2016;
  • - Ngày 29/9/2020, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 499/2020/HSPT, chấp hành xong án phạt tù ngày 07/9/2023, đã thực hiện xong nghĩa vụ đóng án phí ngày 13/9/2022 (BL123).

Tiền sự: Không.

Tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/01/2024 đến nay.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Bị hại: Bà Phạm Thị T, sinh năm 1958.

Địa chỉ: số A, tổ C, KP5 Đường T, phường T, Quận A, TP .. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ ngày 18/01/2024, Nguyễn H đến Khoa nội hô hấp C5 Bệnh viện T1 tìm người có tài sản để trộm cắp. Đến khoảng 10 giờ 10 phút cùng ngày, H nhìn thấy chị Phạm Thị T (là người nhà nuôi bệnh) đang nghe điện thoại, có để 01 chiếc túi xách màu xám in chữ “ GD” đặt ở vị trí trên giường phía dưới chân của bệnh nhân, H đến gần lén lút lấy trộm được chiếc túi xách của chị T cất giấu vào trong áo trước bụng rồi tẩu thoát về hướng cổng Bệnh viện (đường C), khi đi đến Khu 2 Khoa khám bệnh bảo hiểm của Bệnh viện T1 thì Hậu bị lực lượng Công an và Tổ bảo vệ của Bệnh viện bắt giữ cùng vật chứng đưa về Công an P, quận T xử lý.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Nguyễn H đã thừa nhận hành vi phạm tội như trên.

Tang vật tạm giữ:

  • - 01 chiếc túi xách màu xám, bên ngoài có chữ “GD”, bên trong có:
    • + Số tiền 10.250.000 đồng;
    • + 01 giấy phép lái xe, số: [...];
    • + 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy, BS: 59P3-124.73;
    • + 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy,BS: 59G2-929.60.
  • (Tất cả đã trả lại cho bị hại Phạm Thị T).

- Thu giữ tài sản của H: 01 chiếc túi đeo chéo màu đen nâu; 01 bộ trang phục H sử dụng khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

Kết luận định giá tài sản số ......../KL-HĐĐGTS ngày..../..../2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận T kết luận:

Chiếc túi xách màu xám của chị Phạm Thị T trị giá 80.000 đồng.

Trách nhiệm dân sự: Bị hại Phạm Thị T đã nhận lại toàn bộ tài sản không yêu cầu gì.

Tại phiên tòa,

  • - Đại diện Viện kiểm sát trong phần luận tội đã tóm tắt lại hành vi phạm tội của bị cáo, nêu ra các nguyên nhân, điều kiện phạm tội, nêu rõ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ đối với bị cáo và đề nghị xử phạt bị cáo từ năm đến năm tù.
  • Về vật chứng đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
  • - Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu, không tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức án dành cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Nguyễn H, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an quận T, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên, do đó các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Bản kết luận điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra, Bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của người làm chứng cùng tang vật, các tài liệu, chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận: Nguyễn H đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc túi xách màu xám, bên ngoài có chữ “GD”, bên trong có: Số tiền 10.250.000 đồng; 01 giấy phép lái xe, số: [...]; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy BS: 59P3-124.73; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy BS: 59G2-929.60, tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đã bị kết án về tội Trộm cắp tài sản với tình tiết "Tái phạm nguy hiểm", chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội, lần phạm tội này của bị cáo được xác định là “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, mà còn ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức và biết rõ việc trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật và sẽ bị pháp luật trừng trị, nhưng chỉ vì bản chất lười lao động, tham lợi mà bị cáo đã bất chấp, xem thường pháp luật và lợi ích của cộng đồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội trong một thời gian nhằm mục đích cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hội đồng xét xử xem xét tình tiết bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Phạm Thị T đã nhận lại toàn bộ tài sản không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về vật chứng vụ án:

Đối với 01 chiếc túi đeo chéo màu đen nâu; 01 bộ trang phục H sử dụng khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Xét thấy đây là những vật liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, không có giá trị nên tịch thu và tiêu hủy.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ Điều 106, Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

[1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo: N (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 18/01/2024.

[2] Về vật chứng:

Tịch thu, tiêu hủy: 01 chiếc túi đeo chéo màu đen nâu; 01 bộ trang phục H sử dụng khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản;

[3] Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, Bị hại;
  • - Công an quận Tân Bình;
  • - VKSND quận Tân Bình;
  • - Chi cục THADS quận Tân Bình;
  • - TAND, VKSND Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Phòng HSNVCS CA Tp. HCM;
  • - Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Hiếu

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA

5

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự: trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 75/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger