Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

Bản án số: 75/2023/DS-PT

Ngày: 15/11/2023

V/v “ Tranh chấp quyền sử dụng đất”

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Tạ Duy Ước

Các Thẩm phán: ông Bùi Đức Thanh

ông Nguyễn Hồng Ánh

Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hoa Lê - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh: bà Lam Thị Dung - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Trong ngày 15 tháng 11 năm 2023, tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 22/2023/TLPT-DS ngày 04 tháng 04 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”

Do bản án dân sự sơ thẩm số 01/2023/DS-ST ngày 10/01/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2023/QĐ-PT ngày 25/4/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 60/2023/QĐ-PT ngày 12/5/2023; quyết định hoãn phiên tòa số 74/2023/QĐ-PT ngày 20/5/2023 và Thông báo chuyển lịch xét xử số 170/2023/QĐ-PT ngày 20/6/2023; quyết định hoãn phiên tòa số 93/2023/QĐ-PT ngày 14/7/2023; Thông báo mở lại phiên tòa số 12/TB-TA ngày 01/11/2023 giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: ông Trần Tuấn D, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1969;

Cùng địa chỉ: tổ E, khu H, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: bà Vũ Thị N - Luật sư Văn phòng L6; địa chỉ: P.312, tòa nhà HITC, số B X, phường D, quận C, thành phố Hà Nội. Có mặt.

* Bị đơn: ông Vũ Văn Q ( đã chết) và bà Lê Thị D1, sinh năm 1950.

Địa chỉ: tổ H, khu E, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh.

D1 có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị D1 : chị Vũ Thị L, sinh năm 1980, địa chỉ: Tổ H, khu E, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Lê Thị D1 : ông Đặng Văn C, sinh năm 1979; bà Trần Thị Thanh L1, sinh năm 1991 và bà Hoàng Thị Hương G, sinh năm 1996; địa chỉ: Văn phòng luật sư Chính P, số F phố T, phường Q, Đ, Hà Nội. Ông C, bà G có mặt; bà L1 vắng mặt

Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Vũ Văn Q (đã chết) : anh Vũ Văn G1, anh Vũ Ngọc L2, chị Vũ Thị L, anh Vũ Ngọc Q1; Cùng địa chỉ: Tổ H, khu E, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Anh L3, chị L có mặt; anh G1, anh Q1 vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Vũ Ngọc S và bà Trần Thị T;

Địa chỉ: thôn P, xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Vũ Ngọc S và bà Trần Thị T: chị Lê Thanh H1, sinh năm 1998, địa chỉ: thôn N, xã N, huyện P, thành phố Hà Nội. Địa chỉ liên hệ: số A phố V, phường K, T, Hà Nội. Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Vũ Ngọc STrần Thị T: bà Vũ Thị N - Luật sư Văn phòng L6; địa chỉ: P.312, tòa nhà HITC, số B X, phường D, quận C, thành phố Hà Nội. Có mặt.

- Ủy ban nhân dân thành phố C, địa chỉ trụ sở: đường T, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; Đại diện theo ủy quyền: ông Ngô Thành T1- Phó chủ tịch UBND thành phố C. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Ủy ban nhân dân phường C, địa chỉ trụ sở: đường T, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; Đại diện theo ủy quyền: ông Đỗ Khải H2- Phó chủ tịch UBND phường C. Có mặt

4. Người làm chứng:

- Ông Bùi Quang Đ; địa chỉ: tổ H, khu E, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.

- Ông Bùi Văn L4; địa chỉ: tổ E, khu D, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.

- Bà Đào Thị N1; địa chỉ: tổ H, khu E, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.

- Ông Quách Đình S1; địa chỉ: tổ H, khu E, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.

- Ông Vũ Văn K; địa chỉ: tổ H, khu E, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.

5. Người kháng cáo: bị đơn là bà Lê Thị D1 và đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị D1 là chị Vũ Thị L.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 07/12/2019, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Trần Tuấn D và bà Nguyễn Thị Thanh H trình bày: tháng 5/2005 vợ chồng ông D, bà H nhận chuyển nhượng của ông Vũ Ngọc S thửa đất tại tổ H, khu E, phường C, thành phố C, với diện tích là 115,9m², giá trị là 230.000.000đồng, trên diện tích đất có 01 căn nhà cấp 4, có tường ranh giới bao quanh và có cổng riêng, do ông S xây dựng từ năm 1991. Ngày 01/6/2005, được Phòng tài nguyên môi trường thị xã C đăng ký quyền sử dụng đất mang tên Trần Tuấn D, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X 030210, vào số cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 92/QSDĐ do UBND thị xã C cấp ngày 14/3/2003 mang tên ông Vũ Ngọc S. Sau khi nhận chuyển nhượng, vợ chồng ông D chuyển đến sinh sống ổn định, gia đình ông Q, bà D1 ở liền kề và hai bên gia đình không có tranh chấp. Năm 2017, vợ chồng ông D phá nhà cấp 4 cũ xây dựng nhà mới thì ông bà D1, Q ngăn cản, hai bên xảy ra tranh chấp. Năm 2017, ông Q, bà D1 gửi đơn tố cáo ông S giả mạo hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Q, bà D1 với ông S đến Công an thành phố C. Cơ quan điều tra Công an thành phố C kết luận ông S không có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của ông QD1. Năm 2018 vợ chồng ông Q, bà D1 khiếu kiện vụ án hành chính yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Vũ Ngọc S. Trong thời gian Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, giải quyết vụ án hành chính, vợ chồng ông Q, bà D1 tự ý phá tường ranh giới thửa đất, xây dựng nhà cấp 4, xây tường lấp cổng nhà ông D, bà H. Chính quyền địa phương đã yêu cầu ông Q, bà D1 dừng việc xây dựng nhà trái phép nhưng ông QD1 không chấp hành và tiếp tục hoàn thiện xây nhà cấp 4 để sử dụng từ năm 2019 đến nay. Do đó ông D, bà H yêu cầu bà D1 và người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Q là anh G1, anh L3, chị L và anh Q1 phải phá dỡ công trình xây dựng trái phép trên diện tích đất của ông D để trả lại hiện trạng thửa đất ban đầu và đề nghị Ông Q và bà D1 bồi thường thiệt hại do từ năm 2017 gia đình ông bà không xây dựng được nhà ở, ảnh hưởng đến cuộc sống sinh hoạt. Đến ngày 09/9/2022, ông DH có đơn rút yêu cầu khởi kiện với nội dung yêu cầu bồi thường này. Không đồng ý đề nghị của bị đơn về hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Vũ Ngọc S và đã chuyển nhượng cho ông D. Đối với chi phí tố tụng khác: ông D, bà H tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Về chi phí giám định chữ ký đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật. Nguyên đơn đồng ý kết quả định giá tài sản và không yêu cầu định giá lại tài sản.

Bị đơn ông Vũ Văn Q và bà Lê Thị D1 trình bày tại biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa như sau : năm 1976, bà D1, ông Q được Hợp tác xã T2 bán cho thửa đất có diện tích là 371,82m² thuộc tổ H, khu E, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Sau đó gia đình bà D1 xây một căn nhà cấp 4 bằng gạch ba banh, lợp mái tranh nứa để ở. Năm 1981, ông S và ông Q là đồng nghiệp và kết nghĩa anh em. Do thông cảm với hoàn cảnh khó khăn của gia đình ông S nên năm 1987, ông S hỏi mượn đất, ông Q đã đồng ý. Sau đó, ông S xây tường ranh giới bằng gạch, cao khoảng 30 cm và trồng rau trên thửa đất ông Q, bà D1 cho mượn. Đến năm 1991, ông S xây dựng nhà cấp 4, mở cổng đi riêng và đưa vợ con về sinh sống. Năm 2005, gia đình ông S chuyển về sinh sống tại tỉnh Thái Bình nên cho vợ chồng ông D, bà H tiếp tục ở nhờ nhà đất trên. Năm 2009, gia đình bà D1 xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ngày 03/8/2010 được UBND thị xã C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC 378565, số vào sổ cấp GCN : CH00352 mang tên Vũ Văn Q, Lê Thị D1 với diện tích là 314,7m². Diện tích đất hiện tại tăng lên so với diện tích Hợp tác xã giao là do trước đây đất được đo bằng cây sào sau này được đo bằng thước dây nên số đo diện tích có sự chênh lệch. Trong quá trình sử dụng đất, giữa gia đình ông Q, bà D1 với gia đình ông S, gia đình ông D hòa thuận không mâu thuẫn. Năm 2017, ông D, bà H phá nhà cấp 4 để xây nhà kiên cố thì gia đình bà D1 không đồng ý vì ông Q, bà D1 cho ông S mượn đất chứ không bán đất. Ông Q, bà D1 không ký vào giấy tờ gì trong hồ sơ ông S được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2003. Sau khi xảy ra tranh chấp, năm 2019 bà D1 đã xây 01 căn nhà cấp 4, tường rào bao quanh kín lối đi cũ trên diện tích đất mà ông S được UBND thành phố cấp giấy chứng nhận. Nay ông D, bà H yêu cầu bà D1 phải tháo dỡ công trình nhà cấp 4 trả lại đất cho ông D và bà H, bà D1 không chấp nhận. Ngày 08/01/2020, Bà D1 và ông Q có đơn phản tố đề nghị Tòa án buộc ông S, ông D phải trả lại quyền sử dụng đất 115,9m2 cho ông Q, bà D1 và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X030210 mang tên ông Vũ Ngọc S. Ngày 15/6/2020, ông Q, bà D1 có đơn xin rút yêu cầu phản tố trên. Bà D1 và những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Vũ Văn Q yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp năm 2003, mang tên ông Vũ Ngọc S và năm 2005 ông S đã chuyển nhượng cho ông Trần Tuấn D và bà Nguyễn Thị Thanh H, để trả lại diện tích đất trên cho gia đình bà D1. Về chi phí tố tụng khác bà D1 đề nghị bên thua kiện phải chịu.

Người đại diện ủy quyền của ông Q, bà D1: chị Vũ Thị L và những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn Vũ Văn Q: anh Vũ Văn G1 (đại diện ủy quyền của anh G1 là chị Vũ Thị L), anh Vũ Ngọc L2, chị Vũ Thị L và anh Vũ Ngọc Q1 đều có ý kiến quan điểm như ý kiến quan điểm của bị đơn bà Lê Thị D1.

Bị đơn; người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn Vũ Văn Q không có ý kiến gì về kết quả định giá tài sản đang tranh chấp và không yêu cầu định giá lại.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vũ Ngọc S và bà Trần Thị T tại hồ sơ có lời khai; người đại diện theo ủy quyền của ông S, bà T là bà Lê Thanh H1 trình bày: ông Vũ Ngọc S với ông Vũ Văn Q là đồng nghiệp cùng làm Xí nghiệp thăm dò địa chất. Năm 1987, ông Q nói có ý định bán mảnh đất trước nhà cho ông M là trưởng Công an phường C với giá 1.600.000 đồng nhưng không thấy ông M trả lời. Vào thời điểm này căn nhà của ông Q, bà D1 đã quá xuống cấp và ông S đặt vấn đề muốn mua mảnh đất trên với giá như đã báo với ông M, ông Q, bà D1 đồng ý. Mảnh đất có diện tích khoảng hơn 100m². Ông S đã trả cho vợ chồng ông Q, bà D1 600.000 đồng tiền mặt và giá trị 1.000.000 đồng bằng vật liệu gồm: 1.500 viên ngói, toàn bộ cầu phong ni tô, hoành đủ cho 2 gian nhà, xi măng và sắt thép làm hiên. Việc ông S trả tiền và giao vật liệu cho ông Q, bà D1 không có giấy biên nhận. Việc chuyển nhượng đất giữa ông S với vợ chồng ông Q, bà D1 được lập thành giấy viết tay do ông Q nhờ ông Đ viết và ký với tư cách người làm chứng. Khi viết giấy nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất có mặt ông Q, bà D1. Trong giấy viết tay còn có nội dung “Sau này ông S chuyển nhượng cho ai phải tìm người tốt và cho ông Q biết để sau này cuộc sống hàng xóm được hài hòa”. Năm 1987, ông S xây tường gạch bao quanh thửa đất để trồng rau và có lối đi riêng. Năm 1991, ông S xây dựng căn nhà cấp 4, công trình phụ trên đất và đưa vợ con đến sinh sống ổn định, không có tranh chấp. Năm 2000, ông S đã nộp toàn bộ giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Q, bà D1 đến UBND phường C để xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến năm 2003 ông S được UBND thị xã (nay là thành phố) Cẩm Phả cấp Giấy CNQSDĐ. Quá trình sử dụng đất từ năm 1987 cho đến năm 2005 ông S là người nộp thuế sử dụng đất. Tại thời điểm ký “Đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất” ngày 23/6/2000 là do vợ chồng ông S và vợ chồng ông bà Q, D1 ký tại Ủy ban nhân dân phường C. Năm 2005, gia đình ông S chuyển đi nơi khác ở và chuyển nhượng lại nhà đất trên cho vợ chồng em ông S là ông Trần Tuấn D và bà Nguyễn Thị Thanh H. Từ năm 2005 đến năm 2016 vợ chồng ông D, bà H sử dụng nhà đất trên không mâu thuẫn, không tranh chấp với ai. Đến năm 2009, gia đình ông Q làm thủ tục cấp Giấy CNQSDĐ và được cấp năm 2010. Đến cuối năm 2016, gia đình ông S chuyển về tỉnh Thái Bình sinh sống cho đến nay. Tháng 3/2017 vợ chồng ông D, bà H phá nhà cũ xây nhà mới thì bị vợ chồng ông Q, bà D1 ngăn cản, đưa ra lý do là thửa đất này là của vợ chồng ông Q, bà D1 cho ông S mượn chứ không chuyển nhượng. Tháng 4/2017, ông S nhận được giấy triệu tập của UBND phường C về việc giải quyết tranh chấp đất đai liên quan đến nhà ông Q, bà D1. Tại buổi làm việc ông S được tiếp cận hồ sơ cấp Giấy CNQSDĐ nhưng trong hồ sơ không có giấy mua bán viết tay có ông Bùi Quang Đ ký làm chứng vì vậy buổi làm việc không đi đến thống nhất. Tháng 7/2017, ông S nhận được giấy triệu tập của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C, ông S khẳng định không giả mạo bất kỳ chữ ký nào trong hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Ngày 22/8/2017, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả ban hành công văn số 348/CV-VKS với nội dung ông Vũ Ngọc S không vi phạm pháp luật. Năm 2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã ban hành Quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Sau khi nhận được Quyết định này, bà D1 đã có đơn khiếu kiện vụ án hành chính đến Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh. Cuối năm 2017, thanh tra UBND thành phố C kết luận việc cấp Giấy CNQSDĐ cho ông S là đúng quy định pháp luật. Trước khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho gia đình ông D, ông S đã tự nguyện hiến một phần đất để mở rộng ngõ đi chung. Vì những lý do trên ông S, bà T khẳng định không mượn đất của vợ chồng ông Q, bà D1. Việc ông S chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông D và bà H là hoàn toàn đúng pháp luật. Bà D1 yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Vũ Ngọc S và chuyển nhượng cho ông Trần Tuấn D năm 2005 là không có căn cứ. Ông S, bà T đồng ý với kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản và không có ý kiến.

Người đại diện theo ủy quyền của ông S, bà T: bà Lê Thanh H1 có quan điểm: hiện không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh gia đình bà D1 cho ông S ở nhờ. Tuy nhiên căn cứ vào bản kết luật giám định số 3156/C54-45 ngày 25/7/2017 của V- T3; kết luật giám định số: 1334/KLGĐ ngày 25/9/2020 của Phòng K1 Công an tỉnh Q; trình tự cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông S và thủ tục đăng ký quyền sử dụng cho ông D; lời khai của nguồi làm chứng ông Bùi Quang Đ và bà Đào Thị N1 phù hợp với lời khai của ông S; căn cứ vào thực trạng sử dụng thửa đất số 227 của gia đình ông S ổn định, lâu dài, không có tranh chấp việc ông Q, bà D1 chuyển nhượng quyền sử dụng thửa số 227, tại tổ H, khu E, phường C cho ông S, bà T là có căn cứ.

Ủy ban nhân dân phường C có quan điểm: thửa đất của ông Trần Tuấn D tại tổ H, khu E, phường C có nguồn gốc của ông Vũ Văn Q và bà Lê Thị D1 sử dụng từ năm 1976, đến năm 1987 tách một phần đất chuyển nhượng cho ông Vũ Ngọc S. Ông S xây dựng nhà và ở ổn định từ năm 1991 đến năm 2000 ông S và ông Q thực hiện thủ tục đăng ký chuyển nhượng quyền sử dụng theo quy định. Năm 2003 ông S được Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Cẩm Phả cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X 030210, số vào số 92/QSDĐ cho ông S có diện tích 115,9m². Hồ sơ để ông S được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm: đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất của ông Vũ Ngọc S ngày 01/12/2002 có xác nhận của UBND phường C ngày 11/12/2002, xác nhận của Phòng địa chính đô thị ngày 28/02/2003; đơn xin chuyển nhượng QSDĐ có chữ ký của bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng, được UBND phường xác nhận năm 2000; biên bản kiểm tra thực địa (nhà ở, đất ở) ngày 23/6/2000 có xác nhận của UBND phường C, phòng Quản lý đô thị, Phòng địa chính thị xã C; thông báo số 18-TB/ĐC ngày 18/7/2000 về việc cho phép chuyển quyền sử dụng đất đô thị; biên lai thu thuế chuyển quyền sử dụng đất số 1214 mang tên Vũ Văn Q; biên bản xác nhận ranh giới mốc giới năm 2001; hồ sơ kỹ thuật thửa đất số 227 - tờ bản đồ số 13 mang tên Vũ Ngọc S và thửa đất số 228 - tờ bản đồ số 13 mang tên Vũ Văn Q đo vẽ năm 2002; giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước số 9016 mang tên Vũ Ngọc S. Năm 2005 ông S chuyển nhượng nhà đất cho ông Trần Tuấn D, các bên sử dụng ổn định từ năm 1991 đến năm 2017 không có tranh chấp và ông S đã thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước từ năm 1993. Như vậy thủ tục để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông S và việc ông S chuyển nhượng cho ông D là đảm bảo quy định.

Ủy ban nhân dân thành phố C có quan điểm: trình tự cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải bắt đầu từ UBND cấp phường xác nhận, sau đó chuyển đến UBND thị xã (nay là thành phố) Cẩm Phả xem xét để cấp Giấy CNQSDĐ. Đối với hồ sơ xin cấp Giấy CNQSDĐ của ông Vũ Ngọc S đã tuân thủ đúng trình tự quy định. Ông S sử dụng đất ổn định, lâu dài không có tranh chấp và thực hiện nghĩa vụ thuế từ năm 1993, ông S có tên trong bản đồ địa chính từ năm 2001 (thửa đất số 227 tại tổ H, phường C nay là tổ H, khu E, phường C). Vì vậy Ủy ban nhân dân thành phố C đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Vũ Ngọc S. Việc gia đình ông D nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông S đã được Phòng tài nguyên môi trường đăng ký quyền sử dụng đất ngày 01/6/2005 hoàn toàn đúng quy định pháp luật. Việc hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất có văn bản mua bán viết tay do ông Bùi Quang Đ viết, theo như lời khai của các đương sự, UBND thành phố đã kiểm tra hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông S năm 2003 nhưng không tìm thấy giấy viết tay mua bán chuyển nhượng đất giữa ông S với ông Q, bà D1. Hiện trong hồ sơ lưu trữ có Đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 23/6/2000, có chữ ký của các bên chuyển nhượng, được UBND phường C chứng thực, là văn bản thể hiện ý chí tự nguyện của các bên trong việc xác lập giao dịch.

Người làm chứng ông Bùi Văn L4 có lời khai : ông L4 giữ chức vụ Chủ tịch UBND phường C vào những năm 2000 - 2004. Đối với công việc liên quan đến đất đai ông L4 phân công cán bộ địa chính ông Nguyễn Văn L5 phối hợp với cán bộ phòng địa chính thị xã C tiến hành kiểm tra thực địa. Khi hồ sơ đất đai của người dân đảm bảo thì Ủy ban phường chuyển hồ sơ lên Ủy ban cấp trên tiến hành thủ tục tiếp theo. Đối với thủ tục chứng thực đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất năm 2000 giữa vợ chồng ông QD1 với vợ chồng ông S, bà T (Ủy ban nhân dân phường C đã chứng thực) do thời gian quá lâu hơn 20 năm nay, ông L5 đã chết nên ông L4 không còn nhớ được các tình tiết của sự việc.

Người làm chứng Bùi Quang Đ khai: vào buổi tối đầu mùa đông năm 1987 ông Đ sang nhà ông Q, bà D1 chơi thấy ông S cũng đến nhà ông Q. Ông S có nói với ông Đ là: chiều nay em chở vật liệu cho ông Q đến giờ mới xong. Sau đó ông S, ông Q và bà D1 có nhờ ông Đ viết một giấy biên nhận mua bán đất. Trong giấy biên nhận có ghi nội dung ông QD1 bán cho ông S hơn 100m² đất trị giá 1.600.000đ, ông S giao cho ông Q 600.000đ tiền mặt lúc nào thì ông Đ không biết và ngay tối hôm đó ông Đ có nhìn thấy đống ngói còn lại ông S bảo chở vật liệu trị giá 1.000.000 đồng. Ông S và bà D1 ký trong giấy biên nhận viết tay loại giấy vở 28 trang, ông Q có yêu cầu bán cho ông S để ở vì tình anh em, nếu ông S không ở và đi đâu phải báo ông Q vì ông Q không cho người ngoài vào đó.

Người làm chứng Quách Đình S1 có lời khai: nhà ông S1 ở phía sau nhà ông QD1, ông S mua bán chuyển nhượng và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên phần đất nhà ông QD1 như thế nào ông S1 không biết. Phần đất nhà ông S1 không liên quan đến phần đất ông S được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do đó ông S1 không ký giáp ranh với phần đất ông S, ông Q.

Quá trình giải quyết, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bà Đào Thị N1 nhiều lần nhưng bà N1 không có mặt tuy nhiên bà N1 đã có lời khai tại cơ quan điều tra Công an thành phố C thể hiện: năm 2000 bà N1 có ký Biên bản kiểm tra thực địa và đơn xin xác nhận nguồn gốc đất năm 2000 trong hồ sơ chuyển nhượng đất của ông Q và ông S.

Kết quả thẩm định và định giá tài sản: thửa đất số 227 tại tổ H, khu E, phường C mang tên ông Vũ Ngọc S được UBND thành phố C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2003, hiện nay bà Lê Thị D1 đang đang quản lý, sử dụng có tổng diện tích 112,4m², trong đó diện tích được cấp giấy CNQSDĐ là 115,9m²; diện tích bị thiếu là 3,5m² do ông S tự nguyện hiến phần đất này để mở rộng ngõ đi của khu phố, trị giá 263.016.000đồng. Công trình xây dựng trên đất gồm: 01 nhà cấp 4, diện tích 38,8m² giá trị 95.882.560 đồng ; bức tường bao xây gạch xỉ chiều dài 12m, chiều cao 1,7m, bề dày bức tường 0,15m giá trị 3.232.815đồng; công trình trên do ông QD1 xây dựng năm 2018 và 2019. Tổng giá trị quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất là 362.131.375đồng.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 01/2023/DS-ST ngày 10/01/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Tuấn D, bà Nguyễn Thị Thanh H.

2. Bị đơn bà Lê Thị D1 và những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Vũ Văn Q là: anh Vũ Văn G1, anh Vũ Ngọc L2, chị Vũ Thị L và anh Vũ Ngọc Q1 có nghĩa vụ tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng trên thửa đất số 227 tại tổ H, khu E, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh gồm: 01 căn nhà cấp 4 xây gạch ba banh, lợp mái tôn lạnh, lát nền gạch men và công trình phụ khép kín; tường bao gạch xỉ phía bắc (cạnh 1- 2) và phía đông (cạnh 2- 3)” để trả lại quyền sử dụng đất 112,4 m² cho nguyên đơn ông Trần Tuấn D và bà Nguyễn Thị Thanh H, theo hiện trạng được công nhận tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: X 030210, số vào số 92/QSDĐ ngày 14/3/2003 mang tên Vũ Ngọc S, ngày 01/6/2005 được Phòng T (nay là thành phố ) C, tỉnh Quảng Ninh, đăng ký quyền sử dụng đất mang tên Trần Tuấn D (có sơ đồ hiện trạng sử dụng đất kèm theo).

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 17/01/2023, bị đơn là bà Lê Thị D1 và chị Vũ Thị L kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Vũ Ngọc S đã chuyển nhượng cho ông Trần Tuấn D và trả lại đất cho gia đình bà D1.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn là bà Lê Thị D1 và chị Vũ Thị L giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các đương sự giữ nguyên các quan điểm đã trình bày. Đại diện viện kiểm sát có quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm: Về tố tụng, HĐXX thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Về nội dung: căn cứ Khoản 1, 2 Điều 308 BLTTDS, đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị D1; sửa bản án số 01 ngày 10/01/2023 của Tòa án nhân dân TP. Cẩm Phả về nội dung đình chỉ đối với yêu cầu phản tố của bị đơn và nguyên đơn phải thanh toán giá trị bức tường cho bị đơn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Kháng cáo của bị được thực hiện đúng trình tự, thủ tục, đơn kháng cáo nằm trong hạn luật định nên Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét lại bản án sơ thẩm theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xem xét nội dung kháng cáo của bà Lê Thị D1, đối với nội dung do bà Vũ Thị L đại diện theo ủy quyền của ông Q

Về nguồn gốc quyền sử dụng đất và quá trình sử dụng đất:

Căn cứ các chứng cứ có trong hồ sơ và các đương sự đều thừa nhận diện tích đất tranh chấp là một phần của thửa đất do ông Q và bà D1 nhận chuyển quyền sử dụng của Hợp tác xã T2 năm 1876 đến năm 1987 thì chuyển giao cho ông S một phần diện tích đất có diện tích đất 115,9m2 để trồng rau, đến năm 2001 ông S xây dựng nhà và xây tường mở ngọc đi riêng trên diện tích đất này. Phần đất còn lại gia đình ông Q tiếp tục sử dụng cho đến nay.

Quá trình sử dụng đất của ông S sử dụng đất thửa số 227, diện tích 115,9m², tại tổ H, khu E, phường C, thành phố C đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X 030210, số vào số 92/QSDĐ ngày 14/3/2003 mang tên Vũ Ngọc S, trên đất có một căn nhà cấp 4, có tường bao ranh giới và có lối đi riêng

Năm 2005, ông S chuyển nhượng cho vợ chồng ông Trần Tuấn D, bà Nguyễn Thị Thanh H thửa đất số 227, diện tích 115,9m², tại tổ H, khu E, phường C, thành phố C. Ngày 01/6/2005 Phòng tài nguyên môi trường thị xã C đã đăng ký quyền sử dụng đất mang tên ông Trần Tuấn D. Gia đình ông D sử dụng nhà, đất ổn định từ năm 2005 đến 2017 thì ông H xin giấy phép xây dựng để xây dựng ngôi nhà 02 tầng trên đất nhưng khi tháo dỡ nhà cũ để xây nhà mới thì gia đình ông H đã chiếm giữ diện tích đất trên mới phát sinh tranh chấp giữa ông H và ông Q đến năm 2019 ông Q tự xây 01 ngôi nhà cấp 4 và xây tường bao bịt lối ra vào của thửa đất.

Về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất:

Bị đơn và người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn cho rằng không chuyển nhượng quyền sử dụng đất ; không ký thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông S nhưng quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phía bị đơn trình bày có giấy viết tay với nội dung cho ông S mượn đất năm 1987 tuy nhiên không cung cấp được cho Tòa án;

Về căn cứ chứng minh ông Q và bà D1 đã chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất tranh chấp cho ông S như sau:

Việc chuyển nhượng bên Nguyên đơn không có hợp đồng bằng văn bản để chứng minh tuy nhiên các chứng cứ gồm: Lời khai của người làm chứng ông Bùi Quang Đ và ông Đ cũng là người viết Giấy chuyển nhượng theo nội dung thỏa thuận giữa các bên, phù hợp với lời khai của ông S và việc bàn giao quyền sử dụng đất cho ông S sử dụng trên thực tế. Ông Đ còn là con nhận của mẹ bà D1, không có mâu thuẫn gì với gia đình bà D1 nên có cơ sở xác nhận lời khai của ông Đ tại cơ quan điều tra năm 2017 và tại quá trình giải quyết tại tòa án là có cơ sở;

Năm 1991, ông S xây dựng nhà cấp 4, công trình phụ, có cổng đi riêng khi ông S xây có xây dựng tường rào bằng gạch để xác định ranh giới giữa hai nhà, phía gia đình ông QD1 không có ý kiến gì, kể từ đó gia đình ông S đã sinh sống, sử dụng đất ổn định, lâu dài, không có tranh chấp với gia đình ông Q, quá trình sử dụng đất ông S thực hiện nghĩa vụ thuế từ năm 1993 và đến năm 2003 ông S được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Các tài liệu trong hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng có biên bản xác nhận ranh giới, mốc giới năm 2001- 2002 (được sao từ sổ mục kê do UBND phường C cung cấp); biên bản kiểm tra thực địa ngày 23/6/2000; tờ khai lệ phí trước bạ ngày 04/8/2000; trích lục bản đồ địa chính ngày 28/02/2003 ông Q và bà Đào Thị N1 (hộ giáp ranh) đều ký.

Đến năm 2005 ông S chuyển nhượng diện tích đất trên cho vợ chồng ông D, vợ chồng ông D chuyển đến sinh sống ổn định. Gia đình bà D1 ở liền kề không có ý kiến và không có tranh chấp cho đến năm 2017 ông D, bà H được cấp giấy phép xây dựng nhà 2 tầng nên đã phá nhà cấp 4 cũ để xây nhà mới thì gia đình bà D1 mới cản trở. Tại bản đồ địa chính lập năm 2001 và năm 2017, thể hiện tổng diện tích đất ông Q, bà D1 được Hợp tác xã T2 giao cho sử dụng đã được tách thành 2 thửa số 227 và 228.

Năm 2010 Ủy ban nhân dân thị xã C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình bà D1 với diện tích là 314,7m², không bao gồm diện tích của thửa số 227 (diện tích đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2003 mang tên ông Vũ Ngọc S), hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thể hiện các biên bản, sơ đồ thửa đất đều có chữ ký giáp ranh của ông S nhưng gia đình bà D1 vẫn không có khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền về việc gia đình bị cấp thiếu diện đất. Ngoài ra, quá trình cơ quan có thẩm quyền thực hiện lập bản đồ địa chính nhưng gia đình ông Q không có ý kiến hay khiếu nại gì.

Như vậy, với những chứng cứ phân tích trên có đủ cơ sở xác định ông Q và bà D1 đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên cho ông S và ông S đã chuyển nhượng lại cho ông H do vậy ông Q và bà D1 đã chấp dứt quyền sử dụng đất và có căn cứ xác lập quyền sử dụng đất cho ông H và bà D theo quy định.

Về quan điểm của nguyên đơn cho rằng quá trình giải quyết vụ án không thu thập được các tài liệu gồm Giấy chuyển nhượng đất viết tay và giấy giao nhận chuyển nhượng đất với số tiền 1.600.000đ trong đó 600.000đ nhận bằng tiền mặt, 1.000.000đ còn lại trừ ngang sang tiền vật liệu xây dựng làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích của bị đơn và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng : Như đã phân tích trên thì có đủ cơ xác định ông Q và bà D1 đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông S. Ngoài ra lời khai của ông Đ có thấy vật liệu do ông S chở đến nhà ông Q là đống ngói ở gốc nhãn nhà ông Q để thanh toán tiền mua đất; UBND thành phố C có khẳng định việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Vũ Ngọc S đã tuân thủ đúng trình tự quy định. Việc hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất có văn bản mua bán viết tay do ông Bùi Quang Đ viết, theo như lời khai của các đương sự, UBND thành phố đã kiểm tra hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông S năm 2003 nhưng không tìm thấy giấy viết tay mua bán chuyển nhượng đất giữa ông S với ông Q, bà D1. Hiện trong hồ sơ lưu trữ có Đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 23/6/2000, có chữ ký của các bên chuyển nhượng, được UBND phường C chứng thực, là văn bản thể hiện ý chí tự nguyện của các bên trong việc xác lập giao dịch.

Quá trình xét xử phúc thẩm bà D1 có đơn đề nghị trưng cầu giám định lại và cung cấp các tài liệu có mẫu chữ ký của bà D1 năm 1993 gần với thời điểm năm 2000 và đề nghị Tòa án thu thập các mẫu chữ ký của ông Q tại danh sách lĩnh tiền lương hưu được lưu giữ phòng Bảo hiểm xã hội thành phố C và các tài liệu liên quan đến hồ sơ cấp đất của gia đình ông bà năm 2009 tại Phòng Tài nguyên và môi trường thành phố C.

Ngày 13/7/2023 của TAND tỉnh Quảng Ninh ban hành quyết định trưng cầu giám định số 04/2023/QĐ-TCGĐ Trưng cầu Phòng giám định kỹ thuật hình sự- Bộ Q2, thực hiện giám định: Chữ viết, chữ ký trong các văn bản: Đơn xin xác nhận nguồn gốc đất ngày 2/5/2000; Biên bản kiểm tra thực địa và Đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 23/6/2000; Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất và Trích lục bản đồ địa chính ngày 10/12/2002 có phải là của ông Vũ Văn Q và bà Lê Thị D1 viết, ký ra hay không?

Tại kết luận giám định số 229/KL-GĐKTHS(P11) ngày 27/9/2023 của Phòng giám định kỹ thuật hình sự- Bộ Q2 kết luận:

“- Chữ ký trên chữ viết “ Vũ Quyền” tại mục “ Người viết đơn” trên Đơn xin xác nhận nguồn gốc đất đề ngày 02/5/2000 ( ký hiệu A1), chữ ký dưới chữ “Chồng” tại mục “ Bên chuyển nhượng” và chữ ký trên chữ viết “ Vũ Văn Q” tại mục “ Đ/D Bên bán nhà và chuyển QSDĐ” trên Đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất và Biên bản kiểm tra thực địa ( nhà ở, đất ở) đề ngày 23/6/2000( ký hiệu A2) và chữ viết Quyền dưới chữ “ Ô. Quyền” ở phần sơ đồ Trích lục bản đồ địa chính (ký hiệu A3) với chữ ký, chữ viết mẫu so sánh ghi của ông Vũ Văn Q trên tài liệu ký hiệu M1 và từ M3 đến M12 là do cùng một người ký, viết ra.

-Toàn bộ chữ viết nội dung và chữ viết “Vũ Quyền” tại mục “ Người viết đơn” trên Đơn xin xác nhận nguồn gốc đất đề ngày 02/5/2000 ( ký hiệu A1) và chữ viết “ Vũ Văn Q” dưới mục “ Đ/D Bên bán nhà và chuyển QSDĐ” trên Biên bản kiểm tra thực địa ( nhà ở, đất ở) đề ngày 23/6/2000( ký hiệu A2) với chữ viết mẫu so sánh ghi của ông Vũ Văn Q trên tài liệu ký hiệu M1 và từ M4 đến M12 là không phải do cùng một người viết ra.

Xét thấy mẫu chữ ký của ông Q được thu thập tại cơ quan bảo hiểm gồm nhiều mẫu chữ ký của ông Q lĩnh lương thời cùng thời điểm với các tài liệu có chữ ký giám định của ông Q trong hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông S. Đây là các mẫu chữ ký có tính khách quan cao để làm mẫu so sánh nên cơ quan giám định đã đưa ra kết luận về chữ ký của ông Q tại các tài liệu trên đều là một người ký là đảm bảo tính khách quan và khoa học nên được sử dụng làm chứng cứ chứng minh ông Q đã ký tại các hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông S với tư cách đại diện bên chuyển nhượng.

Đối với chữ ký của bà D1:

Lần giám định thứ nhất: kết luận giám định số 3156/C54-45 ngày 25/7/2017 của V - T3, kết luận: “chữ ký dạng viết D1 dưới mục vợ dưới mục bên chuyển nhượng trên tài liệu cần giám định so với chữ viết Lê Thị D1 trên các tài liệu mẫu so sánh do cùng một người viết ra”. Như vậy, đối với các mẫu chữ ký của bà D1 tại các tài liệu do chính bị đơn cung cấp để làm mẫu giám định có có sở khẳng định mẫu so sánh là chữ ký của bà D1, xác định chữ ký của bà D1 tại các tài liệu trên đều do một người viết ra.

Lần giám định thứ 2: Tại kết luận giám định số 229/KL-GĐKTHS(P11) ngày 27/9/2023 của Phòng giám định kỹ thuật hình sự- Bộ Q2 - Chữ viết “ Dung” dưới chữ “ Vợ” tại mục “ Bên chuyển nhượng” trên Đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề ngày 23/6/2000 ( ký hiệu A2) với chữ viết mẫu so sánh ghi của bà Lê Thị D1 trên tài liệu ký hiệu M7, M13, M14 và M15 là không phải do cùng một người viết ra. Đối với mẫu chữ ký tại mẫu so sánh để so sánh với tài liệu giám định lần này, tại kết luận giám định số 229/KL-GĐKTHS(P11) ngày 27/9/2023 của Phòng giám định kỹ thuật hình sự- Bộ Q2 kết luận không phải là do một người viết ra đã thể hiện mẫu chữ ký do bị đơn cung cấp để làm mẫu so sánh không phải của bà D1 ký.

Từ phân tích trên cần lựa chọn kết luận tại kết luận giám định số 3156/C54-45 ngày 25/7/2017 của V - T3 để sử dụng làm chứng cứ đánh giá các tình tiết vụ án.

Về công trình xây dựng trên đất: Từ nhận định trên có cơ sở xác định quyền sử dụng đất tranh chấp đã xác lập quyền sử dụng cho nguyên đơn, trong khi bị đơn đang tranh chấp chiếm dụng diện tích đất trên để xây dựng không có giấy phép, diện tích đất trên đã được cấp giấy phép xây dựng nhà 2 tầng cho Nguyên đơn nên việc xây dựng nhà cấp 4 của bị đơn là trái pháp luật hoàn toàn lỗi của bị đơn nên cần buộc bị đơn tháo dỡ để trả lại đất cho nguyên đơn và tiến hành xây dựng đúng giấy phép xây dựng được cấp. Đối với bức tường giáp ngõ đi và giáp hộ bà N1, xét thấy nguyên đơn có quan điểm sẽ không xây dựng nhà vào vị trí này, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết buộc tháo dỡ và có giá trị làm tường bao phần đất không xây dựng theo giấy phép xây dựng nên giao cho nguyên đơn sở hữu và thanh toán cho bị đơn giá trị của bức tường này.

Từ những phân tích ở trên thấy, Cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn trả lại đất và tháo dỡ công trình xây trên đất lấn chiếm trái pháp luật là có căn cứ nên kháng cáo của bị đơn là bà Lê Thị D1 và người đại diện theo ủy quyền của bà D1 là chị Vũ Thị L là không có căn cứ chấp nhận.

Tuy nhiên, đương sự kháng cáo toàn bộ bản án nên Hội đồng xét xử xem xét phần tuyên án thấy:

Bản án sơ thẩm nhận định trong quá trình giải quyết vụ án “ phía bị đơn nộp đơn phản tố, tuy nhiên bị đơn đã rút đơn phản tố, do đó không xem xét”, trong hồ sơ vụ án thể hiện Toà án cấp sơ thẩm đã ban hành thông báo thụ lý yêu cầu phản tố của bị đơn nhưng khi bị đơn đã rút yêu cầu phản tố,bản án không tuyên đình chỉ yêu cầu trên là không đúng quy định; Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn nhận định “Về chi phí tố tụng: nguyên đơn tự nguyện chi phí thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản nên không xem xét” nhưng phần quyết định không tuyên là thiếu sót. Tại phần quyết định bản án sơ thẩm tòa tuyên chưa rõ ràng, chưa có tính ràng buộc đối với trách nhiệm trả lại đất của bị đơn cho nguyên đơn. Vì vậy tòa án cấp phúc thẩm sẽ sửa các nội dung trên để đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của đương sự.

[3] Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của bị đơn là bà Lê Thị D1 và người đại diện theo ủy quyền của bà D1 là chị Vũ Thị L không được chấp nhận nhưng bản án sơ thẩm bị sửa nên bà D1 và chị L không phải chịu án phí phúc thẩm. Do nguyên đơn được giao sở hữu bức tường bao trên đất nên phải chịu án phí đối với phần tài sản được giao quản lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 313, khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng Dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn là bà Lê Thị D1 và người đại diện theo ủy quyền của bà D1 là chị Vũ Thị L. Sửa bản án sơ thẩm.

Áp dụng: khoản 16 Điều 3; khoản 4 Điều 95, Điều 100 Luật đất đai năm 2013; Điều 166; Điều 615 Bộ luật dân sự 2015; Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 2 Điều 26; điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1]. Đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn về việc buộc ông Vũ Ngọc S và ông Trần Tuấn D phải trả lại quyền sử dụng đất 115.9m² tại tổ H, khu E, phường C, thành phố C cho ông Q và bà D1 ; Buộc UBND thành phố C hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X030210, số vào số 92/QSDĐ ngày 14/3/2003 mang tên Vũ Ngọc S đã chuyển nhượng cho ông Trần Tuấn D năm 2005.

[2]. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Tuấn D, bà Nguyễn Thị Thanh H đối với bà Lê Thị D1 và anh Vũ Văn G1, anh Vũ Ngọc L2, chị Vũ Thị L và anh Vũ Ngọc Q1 (người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Vũ Văn Q).

[3]. Bà Lê Thị D1 và anh Vũ Văn G1, anh Vũ Ngọc L2, chị Vũ Thị L và anh Vũ Ngọc Q1 (người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Vũ Văn Q) phải có nghĩa vụ trả lại quyền sử dụng đất 112,4 m² cho nguyên đơn ông Trần Tuấn D và bà Nguyễn Thị Thanh H, theo hiện trạng được công nhận tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: X 030210, số vào số 92/QSDĐ ngày 14/3/2003 mang tên Vũ Ngọc S, ngày 01/6/2005 được Phòng T (nay là thành phố ) C, tỉnh Quảng Ninh, đăng ký quyền sử dụng đất mang tên Trần Tuấn D.

[4]. Bà Lê Thị D1 và anh Vũ Văn G1, anh Vũ Ngọc L2, chị Vũ Thị L và anh Vũ Ngọc Q1 (người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Vũ Văn Q) có nghĩa vụ tháo dỡ công trình xây dựng trên thửa đất số 227 tại tổ H, khu E, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh gồm: 01 căn nhà cấp 4 xây gạch ba banh, lợp mái tôn lạnh, lát nền gạch men và công trình phụ khép kín; Giao cho ông Trần Tuấn D và bà Nguyễn Thị Thanh H sở hữu bức tường bao gạch xỉ phía bắc (cạnh 1- 2) và phía đông (cạnh 2- 3) và có trách nhiệm thanh toán cho bị đơn số tiền 3.232.815 đ ( Ba triệu hai trăm ba mươi hai nghìn tám trăm mười lăm đồng)

(có sơ đồ hiện trạng sử dụng đất kèm theo)

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, mà bên phải thi hành án chưa thi hành án thì phải chịu tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

[5]. Về chi phí giám định: bị đơn bà Lê Thị D1 phải chịu chi phí giám định chữ ký tại cấp sơ thẩm là 5.100.000đ và tại cấp phúc thẩm là 9.020.000đ. Bà D1 đã nộp đủ.

Về chi phí tố tụng khác : nguyên đơn tự nguyện chịu chi phí thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản nên không xem xét.

[6]. Về án phí : bà Lê Thị D1, anh Vũ Văn G1, anh Vũ Ngọc L2, chị Vũ Thị L và anh Vũ Ngọc Q1 được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Bà Lê Thị D1 và chị Vũ Thị L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Trả lại cho chị Vũ Thị L số tiền 300.000 tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005278 ngày 09/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả.

Ông Trần Tuấn D và bà Nguyễn Thị Thanh H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí nhưng được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp 21.000.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004976 ngày 25/12/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả. Trả lại cho ông Trần Tuấn D và bà Nguyễn Thị Thanh H số tiền 20.700.000đ ( Hai mươi triệu bảy trăm nghìn đồng)

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

- Đương sự;

- VKSND tỉnh Quảng Ninh;

- TAND thành phố Cẩm Phả;

- THA, VP;

- Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tạ Duy Ước

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hồng Ánh

Tạ Duy Ước

Bùi Đức Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2023/DS-PT ngày 15/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 75/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/11/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger