Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BỐ TRẠCH

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2023/HSST

Ngày 15 - 8 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH - TỈNH QUẢNG BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Đỗ Quốc Tân
  • Các Hội thẩm nhân dân: ông Võ Đình Vang và bà Nguyễn Thùy Hương
  • Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Hồng Dung - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bố Trạch.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch tham gia phiên toà: bà Nguyễn Hoàng Quỳnh Chi - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 63/2023/HSST ngày 10/7/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2023/QĐXXST - HS ngày 01/8/2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Thị T (tên gọi khác: Trần Linh), sinh ngày 26 tháng 6 năm 1993

tại huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh; nơi đăng ký thường trú: thôn 3 T, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; nơi ở hiện nay: Thôn 19/5, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Th và bà Đặng Thị Th; có chồng Nguyễn Tiến Đ; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 17-01-2021, bị Công an huyện Quảng Trạch ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 28/3/2023, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng: Ông Đặng Tiến L, sinh năm 1962; nơi cư trú: thôn Th, xã Th, huyện B, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 28/3/2023, Nguyễn Thị T điều khiển xe mô tô BKS 38B1 - 26238 nhãn hiệu SH MORE đi từ phòng trọ ở thôn 19/5, xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch vào xã Hải Phú, huyện Bố Trạch gặp đối tượng tên Phúc (không rõ danh tính, địa chỉ cụ thể) có số điện thoại 0968.700.xxx mua 17 viên ma túy hồng phiến với giá 1.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Tuyên điều khiển xe mô tô về phòng trọ để cất giấu sử dụng. Khi đi đến khu vực trước cổng chào thôn Thanh Khê, xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch thì bị Đồn Biên phòng Lý Hòa phối hợp với Đội phòng chống ma túy và tội phạm Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Bình phát hiện bắt quả tang Tuyên đang cầm trong tay trái 01 gói nilon màu bạc bên trong chứa 17 viên nén hình tròn, màu hồng.

Tại Bản kết luận giám định số 292/KL-KTHS ngày 29/3/2023 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình kết luận: Mẫu ký hiệu A gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 1,793g. Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy. Số thứ tự 247, Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ - CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bố Trạch đã thu giữ 01 gói ni long màu bạc, bên trong chứa 01 gói nilon trong suốt đựng 17 viên nén hình tròn, màu hồng có khối lượng 1,793g, sau giám định còn 1,663g được niêm phong trong một phong bì thư dán kín có số 292/KL- KTHS ngày 29/3/2023 của Phòng KTHS Công an tỉnh Quảng Bình; 01 điện thoại di động hiệu IPHONE 11 màu đen, số series F4GFNO1TN735, số máy NWLT2VN/A, gắn thẻ sim 0379.366.399 đã qua sử dụng; 01 xe mô tô mang biển kiểm soát 38B1 - 262.38, hiệu HONDA, màu bạc đen, số máy JK01E0257249, số khung RLHJK0116MZ678906 đã qua sử dụng và chuyển kèm theo hồ sơ vụ án 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 38003131 mang tên Nguyễn Thị T do Công an huyện Hương Khê cấp ngày 24/12/2021.

Tại bản Cáo trạng số 67/CT - VKSBT ngày 07 tháng 7 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T từ 18 tháng đến 24 tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ. Về hình phạt bổ sung: đề nghị miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: đề nghị áp dụng các điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì thư dán kín có số 292/KL- KTHS ngày 29/3/2023 của Phòng KTHS Công an tỉnh Quảng Bình và 01 thẻ sim có số 0379.366.399, tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu IPHONE 11 màu đen, số series F4GFNO1TN735, số máy NWLT2VN/A đã qua sử dụng, 01 xe mô tô mang biển kiểm soát 38B1 - 262.38, hiệu HONDA, màu bạc đen, số máy JK01E0257249, số khung RLHJK0116MZ678906 đã qua sử dụng kèm theo 01 giấy đăng ký xem mô tô số 38003131 mamg tên Nguyễn Thị T do Công an huyện Hương Khê cấp ngày 24/12/2021; đề nghị tuyên án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhất trí với toàn bộ nội dung bản cáo trạng và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên. Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, xin hứa sẽ không phạm tội nữa. Vì vậy, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo xin lại chiếc điện thoại và chiếc xe mô tô.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa, cùng các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng các quy định pháp luật về tố tụng.
  2. Việc người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa, xét thấy trong quá trình điều tra giải quyết vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng đã thu thập được lời khai của người này, nên sự vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ khoản khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử đối với vụ án.

  3. Về tội danh: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị T đều khai nhận: Chính bị cáo vào ngày 28/3/2023, đã có hành vi tàng trữ trái phép 17 viên ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 1,793g nhằm mục đích để sử dụng nhưng chưa sử dụng được thì bị lực lượng Đồn Biên phòng Lý Hòa phối hợp với Đội phòng chống ma túy và tội phạm Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Bình phát hiện bắt quả tang. Xét lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, cùng các vật chứng đã thu giữ, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
  4. Xét tính chất, hậu quả, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân bị cáo thấy: Bị cáo là người trưởng thành, có nhận thức nhất định về pháp luật, lẽ ra bị cáo phải nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma tuý dưới bất cứ hình thức nào đều bị pháp luật nghiêm cấm nhưng do ý thức coi thường pháp luật, sa vào nghiện hút nên bị cáo đã tàng trữ ma tuý nhằm để sử dụng. Ngày 17/01/2021, bị cáo đã từng bị Công an huyện Quảng Trạch xử phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, tuy nhiên bị cáo không lấy đó làm bài học để tự răn đe và rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục ăn chơi nghiện hút và thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó không chỉ xâm phạm trực tiếp đến các quy định của Nhà nước trong việc quản lý, kiểm soát các chất kích thích, gây nghiện mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội nói chung, là nguyên nhân làm phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, cần chấp nhận mức hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
  5. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Thị T là người sử dụng ma túy, không có việc làm, thu nhập không ổn định nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung như ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa cho bị cáo.
  6. Về xử lý vật chứng: Xét vật chứng bị thu giữ 01 phong bì thư dán kín có số 292/KL- KTHS ngày 29/3/2023 của Phòng KTHS Công an tỉnh Quảng Bình, bên trong chứa 1,663g Methamphetamine còn lại sau giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, 01 thẻ sim có số 0379.366.399 là công cụ mà bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu huỷ. Riêng 01 điện thoại di động hiệu IPHONE 11 màu đen, số series F4GFNO1TN735, số máy NWLT2VN/A, đã qua sử dụng; 01 xe mô tô mang biển kiểm soát 38B1 - 262.38, hiệu HONDA, màu bạc đen, số máy JK01E0257249, số khung RLHJK0116MZ678906 đã qua sử dụng kèm theo 01 giấy đăng ký xem mô tô số 38003131 mang tên Nguyễn Thị T do Công an huyện Hương Khê cấp ngày 24/12/2021, tại phiên tòa bị cáo khẳng định các tài sản này là tài sản riêng của bị cáo, không liên quan đến chồng của bị cáo là anh Nguyễn Tiến Đ vì bị cáo và anh Đức đã ly thân cách đây 03 năm. Việc bị cáo sử dụng các tài sản này để làm công cụ, phương tiện nhằm thực hiện việc phạm tội nên cần tich thu sung công quỹ là phù hợp với quy định tại các điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
  7. Trong vụ án này, có đối tượng tên Phúc có số điện thoại 0968.700.xxx là người đã bán ma túy cho Tuyên. Ngày 12.4.2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bố Trạch đã có Công văn số 190 đề nghị Phòng pháp chế - Tập đoàn viễn thông Quân đội Viettel cung cấp thông tin của chủ thuê bao nói trên và lịch sử cuộc gọi ngày 28/3/2023 nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả phúc đáp, khi nào có kết quả, nếu có cơ sở sẽ xử lý sau.
  8. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thị T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách nhà nước.
  9. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; các điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 24 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ là ngày 28/3/2023.

    Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Thị T với thời hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (15/8/2023) để đảm bảo thi hành án, theo Quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử.

  3. Về hình phạt bổ sung: Miễn chấp hành hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Thị T.
  4. Về xử lý vật chứng:
  5. Tuyên tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì thư dán kín có số 292/KL- KTHS ngày 29/3/2023 của Phòng KTHS Công an tỉnh Quảng Bình, bên trong chứa 1,663g (một phẩy sáu trăm sáu mươi ba gam) Methamphetamine và 01 thẻ sim có số 0379.366.399.

    Tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu IPHONE 11 màu đen, số series F4GFNO1TN735, số máy NWLT2VN/A đã qua sử dụng; 01 xe mô tô mang biển kiểm soát 38B1 - 262.38, hiệu HONDA, màu bạc đen, số máy JK01E0257249, số khung RLHJK0116MZ678906 đã qua sử dụng kèm theo 01 giấy đăng ký xem mô tô số 38003131 mamg tên Nguyễn Thị T do Công an huyện Hương Khê cấp ngày 24/12/2021.

    Vật chứng trên có đặc điểm như mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/8/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bố Trạch với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch.

  6. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thị T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.
  7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (15/8/2023).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - VKSND tỉnh Quảng Bình;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình;
  • - VKSND huyện Bố Trạch;
  • - Công an huyện Bố Trạch;
  • - Chi cục THADS huyện Bố Trạch;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Đỗ Quốc Tân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2023/HSST ngày 15/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH - TỈNH QUẢNG BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 75/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH - TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử 24 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger