Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ LA GI

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2024/HSST

Ngày: 15-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Từ Quốc Thái Bình

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Quang
  2. Bà Đinh Thị Mỹ Hằng

Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Mỹ Nga - Thư ký Toà án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Bùi Văn Đông - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 83/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

NGUYỄN VĂN CHƯƠNG; Sinh năm: 1986, tại: Bình Thuận; Nơi cư trú:

Tổ I, thôn H, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt

Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ học vấn: 2/12; Nghề nghiệp:

Không; Con ông: Nguyễn Văn C, sinh năm: 1962 (chết) và bà Nguyễn Thị P, sinh

năm 1961 (chết); Vợ, con: Chưa có; Tiền sự - Tiền án: Không;

Nhân thân: Ngày 12/8/2004, Nguyễn Văn C1 bị Toà án nhân dân huyện Hàm Tân (cũ) nay là thị xã L, tỉnh Bình Thuận xử phạt 06 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng, về tội: “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 53/HSST), hiện C1 đã chấp hành xong nên đã được xoá án tích.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 20/3/2024; Bị tạm giữ từ ngày 20/3/2024 đến ngày 26/3/2024; Hiện đang tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 51/2024/HSST-LCCT ngày 25/6/2024 của Toà án nhân dân thị xã La Gi (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào trưa ngày 16/3/2024, trong lúc đang uống cà phê tại quán N, thuộc thôn H, xã T, thị xã L, bị cáo Nguyễn Văn C1 được một người tên T (không rõ lai lịch) cho 01 tép ma tuý đá, thì C1 cất vào trong túi quần của mình để dành sử dụng. Đến khoảng 06 giờ ngày 20/3/2024, tại phòng ngủ của nhà mình, thuộc thôn H, xã T, thị xã L, bị cáo C1 lấy tép ma tuý đá ra đổ vào trong nỏ thuỷ tinh để sử dụng, C1 đốt lên hút được hai hơi rồi đặt bộ dụng cụ sử dụng ma tuý xuống nền nhà. Đến khoảng 07 giờ cùng ngày, Công an xã T đến kiểm tra, phát hiện bắt quả tang bị cáo Nguyễn Văn C1 có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Vật chứng thu giữ gồm: 01 chai nhựa nắp màu vàng, trên nắp có đục 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống hút nước giải khát màu trắng; 01 ống thuỷ tinh hình cong dài 12cm bên trong có chứa chất rắn màu trắng nâu; 01 hột quẹt có màu trắng đục đỏ, hiệu H-VIET. Công an xã T đã chuyển hồ sơ cho Cơ quan CSĐT Công an thị xã L để giải quyết theo thẩm quyền.

1

Cơ quan CSĐT Công an thị xã L ra quyết định trưng cầu giám định đối với 01 ống thuỷ tinh cong, dài 12cm, bên trong chứa chất rắn màu trắng nâu (ký hiệu M) thu giữ của Nguyễn Văn C1. Tại bản Kết luận giám định số 347/KL-KTHS ngày 25/3/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận: Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,3589 gam, là Methamphetamine.

Xử lý vật chứng: Đối với 01 ống thuỷ tinh cong, dài 12cm và 0,2996 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 347 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B; 01 chai nhựa màu trắng có nắp màu vàng, trên nắp có gắn 01 ống hút nước giải khát màu trắng; 01 cái bật lửa màu trắng đục - đỏ, hiệu H-VIET, hiện đã được Cơ quan CSĐT Công an thị xã L chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự thị xã L quản lý vào ngày 20/6/2024.

Tại bản cáo trạng số: 85/CT-VKSLG-HS ngày 18/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi truy tố bị cáo Nguyễn Văn C1, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn C1 và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C1, phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

  • - Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • - Phạt bị cáo Nguyễn Văn C1, mức án từ 24 tháng đến 30 tháng tù.
  • * Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tuyên: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 347 của Phòng K - Công an tỉnh B; 01 chai nhựa màu trắng có nắp màu vàng, trên nắp có gắn 01 ống hút nước giải khát màu trắng và 01 cái bật lửa màu trắng đục - đỏ, hiệu H-VIET.

2

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn C1 khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra và thừa nhận cáo trạng của VKSND thị xã La Gi truy tố là hoàn toàn đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

Bị cáo Nguyễn Văn C1 không có ý kiến cũng như tranh luận gì đối với quan điểm của đại diện VKSND thị xã La Gi.

Bị cáo Nguyễn Văn C1 không trình bày lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội:

Tại tòa, bị cáo Nguyễn Văn C1 thừa nhận nội dung quyết định truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội; lời khai nhận của bị cáo là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong quá trình điều tra và diễn biến tại phiên toà. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Vào lúc 07 giờ 00 phút ngày 20/3/2024, tại nhà thuộc thôn H, xã T, thị xã L, bị cáo Nguyễn Văn C1 đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,3589 gam; là Methamphetamine để sử dụng, thì bị Công an xã T phát hiện bắt quả tang, thu giữ cùng tang vật.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo C1 khai nhận toàn bộ số ma túy mà công an thu giữ là của bị cáo. Về nguồn gốc số ma tuý này, bị cáo được một người tên T (không rõ lai lịch) cho vào trưa ngày 16/3/2024, trong lúc đang uống cà phê tại quán N, thuộc thôn H, xã T, thị xã L. Sau đó, bị cáo cất giấu trong túi quần của mình, đến sáng ngày 20/3/2024, bị cáo lấy ra sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ như đã nêu trên.

Hành vi trên của bị cáo Nguyễn Văn C1 đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, cáo trạng số: 85/CT-VKSLG-HS ngày 18/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi truy tố bị cáo Nguyễn Văn C1 về tội danh, điều luật áp dụng nêu là có căn cứ, đúng pháp luật.

3

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn C1, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, để biết rõ ma túy đá (Methamphetamine) là loại biệt dược độc hại, ảnh hưởng tới sức khỏe của người sử dụng, tệ nạn ma túy còn là một trong những nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác, mặc dù nhận thức được các vấn đề này nhưng để thỏa mãn nhu cầu nghiện ngập của mình, bị cáo đã bất chấp pháp luật, cất giấu ma tuý để sử dụng cho bản thân. Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn C1 là cố ý, gây nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo, giáo dục bị cáo, cũng như để bị cáo có điều kiện cai nghiện, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo là đối tượng nghiện, không có nghề nghiệp, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) phong bì được niêm phong còn nguyên vẹn số 347 của Phòng K - Công an tỉnh B; 01 (một) chai nhựa màu trắng có nắp màu vàng, trên nắp đục hai lỗ tròn, trong đó một lỗ gắn ống hút nước giải khát màu trắng; 01 (một) cái bật lửa màu trắng đục - đỏ, hiệu H-VIET. Xét, đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; vật không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.

[7] Về các vấn đề khác: Đối với đối tượng tên T, là người cho bị cáo Nguyễn Văn C1 ma tuý, có đặc điểm nhận dạng như bị cáo khai, do chỉ có duy nhất lời khai của bị cáo, ngoài ra không có thông tin gì khác, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã L không đủ căn cứ xác minh, làm rõ để xử lý, là có căn cứ.

[8] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn C1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

4

  • - Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • - Điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
  • - Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C1, phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

[2] Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn C1 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án và được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 20/3/2024 đến ngày 26/3/2024.

[3] Về xử lý vật chứng: Tuyên tịch thu tiêu huỷ 01 (một) phong bì được niêm phong còn nguyên vẹn số 347 của Phòng K - Công an tỉnh B; 01 (một) chai nhựa màu trắng có nắp màu vàng, trên nắp đục hai lỗ tròn, trong đó một lỗ gắn ống hút nước giải khát màu trắng; 01 (một) cái bật lửa màu trắng đục - đỏ, hiệu H-VIET. Hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã L, có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/6/2024, giữa Cơ quan CSĐT công an thị xã L và Chi cục thi hành án dân sự thị xã La Gi.

[4] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn C1 phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn C1 có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung.

* Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - CA tỉnh Bình Thuận;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND thị xã La Gi;
  • - Chi cục THADS thị xã La Gi;
  • - Công an thị xã La Gi;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS - Lưu Tòa án;
  • - UBND địa phương nơi BC cư trú.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa




Từ Quốc Thái Bình

5

6

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2024/HSST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 75/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Chương
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger