Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2024/HS-ST

Ngày 14-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Thanh Hiên

Bà Hà Thị Nga

Thư ký phiên toà: Bà Lương Thị Thu Hà - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Lan Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 60/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 346/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Vũ Xuân Á, sinh năm 1992 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Xuân H và bà Nguyễn Thị T; có vợ là Phạm Hồng P, có 01 con; tiền án: Không, tiền sự: Ngày 03/3/2023 UBND huyện V xử phạt hành chính về hành vi Buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/12/2023; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 6 giờ 30 phút ngày 07/12/2023, tại khu vực vỉa hè trước cửa nhà số B đường V, phường N, quận L, Hải Phòng, Tổ công tác Công an quận L làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát phát hiện Phạm Công L, sinh năm: 1963, nơi cư trú: xã H, V, Hải Phòng đang tập kết 03 thùng carton chứa hàng hoá có biểu hiện nghi vấn. Qua

kiểm tra, lực lượng chức năng đã phát hiện, thu giữ 03 thùng carton bên trong có tổng số 2020 bao thuốc lá điếu, mỗi bao có 20 điếu thuốc lá gồm các loại như sau: 490 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu ZEST MARULA (mẫu M1); 500 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu ZEST (mẫu M2); 500 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu ESSE CHANGE (mẫu M3); 10 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu ESSE CLASSIC (mẫu M4); 490 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu CRAVEN DEMI; 30 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu NO 555 GOLD (mẫu M5). Tại thời điểm kiểm tra, Lưu không xuất trình được hoá đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc xuất xứ. Tổ công tác đã tiến hành thu giữ số hàng hoá trên cùng 01 xe ô tô BKS:15B-033.74 và mời L về trụ sở giải quyết.

Theo kết luận giám định số 24/KL-KTHS ngày 18/12/2023 của Phòng K1 Công an T3 kết luận:

- 490 (bốn trăm chín mươi) bao, bao loại 20 điếu của mẫu M1 gửi giám định là Thuốc lá điếu, loại: ZEST MARULA do nước ngoài sản xuất, trên các bao gói không dán tem nhập khẩu, không đủ căn cứ xác định cụ thể là do nước nào sản xuất.

- 500 (năm trăm) bao, bao loại 20 điếu của mẫu M2 gửi giám định là Thuốc lá điếu, loại: ZEST, do nước ngoài sản xuất, trên các bao gói không dán tem nhập khẩu, không đủ căn cứ xác định cụ thể là do nước nào sản xuất.

- 500 (năm trăm) bao loại 20 điếu của mẫu M3 gửi giám định là Thuốc lá điếu, loại: ESSE CHANGE, do nước ngoài sản xuất, trên các bao gói không dán tem nhập khẩu, không đủ căn cứ xác định cụ thể là do nước nào sản xuất.

- 10 (mười) bao loại 20 điếu của mẫu M4 gửi giám định là Thuốc lá điếu, loại: ESSE CLASSIC do nước ngoài sản xuất, trên các bao gói không dán tem nhập khẩu, không đủ căn cứ xác định cụ thể là do nước nào sản xuất.

- 490 (bốn trăm chín mươi) bao loại 20 điếu của mẫu M5 gửi giám định là Thuốc lá điếu, loại: CRAVEN DEMI, sản xuất tại Việt Nam bởi công ty C.

- 30 (ba mươi) bao loại 20 điếu của mẫu M6 gửi giám định là Thuốc lá điếu, loại: NO 555 GOLD, sản xuất tại Việt Nam bởi Công ty TNHH L1.

Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra xác định:

Do trước đây đã từng tiếp thị và giao hàng cho chị Phạm Thị T1, sinh năm 1975, nơi cư trú: số A H, phường A, quận L, Hải Phòng tại cửa hàng bán thuốc lá của chị T1 ở địa chỉ số F T, H, Hải Phòng nên Vũ Xuân Á nhớ địa chỉ cửa hàng này. Vào khoảng ngày 01/12/2023, có một nữ giới gọi điện cho Vũ Xuân Á hỏi “em có bán bấm, Z, chuối thì giao đến 68 cho chị”, Á hiểu người này muốn mua thuốc lá điếu nhập lậu (thuốc lá do nước ngoài sản xuất nhập lậu vào Việt Nam) loại Esse, Z, Zest M và nghĩ người gọi điện là chị T1 nên bảo “để em báo lại sau”. Sau đó, Á gọi điện cho nam giới tên H1 (không xác định được căn cước lai lịch) đặt mua 150 cây thuốc lá điếu nhập lậu gồm các loại gồm các loại Esse, Z, Zest M. H1 báo giá 30.000.000 đồng. Á gọi điện lại cho nữ giới báo có 150 cây thuốc lá

điếu nhập lậu gồm các loại Esse, Z, Z1 giá là 30.750.000 đồng. Nữ giới đồng ý mua, hẹn khi nào nhận hàng sẽ giao tiền. Ngày 06/12/2023, H1 gọi điện cho Á hẹn tối đến khu vực cầu N phía tỉnh Thái Bình để giao nhận. Khoảng 20 giờ cùng ngày, Á điều khiển xe mô tô BKS: 15K-327.96 đến khu cách cầu N khoảng 02 km về phía tỉnh Thái Bình gặp H1 đi xe tải màu trắng đến (Á không nhớ biển số xe). H1 mở thùng xe và giao cho Á 03 thùng carton chứa thuốc lá điếu nhập lậu, Á chằng buộc 03 thùng lên xe mô tô rồi chở về nhà ở P, H, V, Hải Phòng. Khi về đến nhà, Á mở 03 thùng carton ra kiểm tra thấy bên trên đều phủ lớp thuốc lá Craven (thuốc lá do Việt Nam sản xuất) còn bên dưới là các loại thuốc lá điếu nhập lậu loại Esse, Z, Z. Ánh không kiểm đếm số lượng từng loại. Ánh bọc kín 03 thùng carton bằng băng dính, rồi sử dụng xe mô tô chở sang nhà anh Phạm Công L (làm nghề kinh doanh xe chở khách và vận chuyển hàng hóa) thuê vận chuyển đến địa chỉ số F T, H, Hải Phòng với giá cước là 200.000 đồng. Ánh chỉ đọc địa chỉ cho anh L chở hàng đến, không nói cho anh L biết về số hàng hóa bên trong. Sáng ngày 07/12/2023, anh L điều khiển xe ô tô BKS: 15B-033.74 chở khách và hàng hoá ra trung tâm Hải Phòng. Sau khi trả khách xong khoảng 06 giờ 30 phút cùng ngày, anh L dừng xe trước cửa nhà số B đường V, phường N, quận L, Hải Phòng và tập kết 03 thùng carton xuống vỉa hè chuẩn bị gọi xe ôm chở đi thì bị Tổ công tác Công an quận L kiểm tra phát hiện, thu giữ như trên.

Ngày 09/12/2023, Vũ Xuân Á đến Công an quận L đầu thú. Tại Cơ quan điều tra Á khai nhận hành vi phạm tội như trên. Do đã có lần đến tiếp thị và giao thuốc lá nội cho chị T1 ở cửa hàng số F T, H, Hải Phòng, nên khi nghe nữ giới nói giao đến 68 Ánh nghĩ là chị T1 hỏi. Những lần liên lạc trước chị T1 hay gọi bằng nhiều số khác nhau nên Á không nhớ và cũng không lưu số điện thoại của chị T1. Á cũng không nhớ rõ thời điểm chính xác và số điện thoại của nữ giới gọi điện cho Á đặt thuốc lá ngoại vào khoảng ngày 01/12/2023. Đối với nam giới tên H1, Á không rõ căn cước, lai lịch. Ánh biết H1 do đã nhiều lần mua thuốc lá nội của H1 trước đó. H1 có đưa cho Á 01 chiếc điện thoại có gắn sẵn thẻ sim (Á không nhớ số) để Á liên lạc với H1. Sau khi Cơ quan Công an phát hiện và thu giữ số thuốc lá trên, ngày 08/12/2023, H1 đã lấy lại chiếc điện thoại. Đối với chiếc xe mô tô BKS: 15K-327.96, mà Á đã sử dụng để vận chuyển thuốc lá, đây là xe Ánh mua lại của một nam giới tên T2 (không xác định được căn cước lai lịch) vào khảng đầu năm 2023. Đến đầu năm 2024, Á đã bán lại chiếc xe trên cho một nam giới tên K không quen biết.

Quá trình điều tra, chị Phạm Thị T1 khai: Cách đây 01 năm, Á có đến cửa hàng của chị T1 tại số F T, H, Hải Phòng tiếp thị sản phẩm thuốc lá nội. Từ đó, thỉnh thoảng Á có đến cửa hàng của chị để tiếp thị và rao bán các loại thuốc lá nội. Chị T1 không gọi điện cho Á để đặt mua thuốc lá điếu nhập lậu.

Tiến hành cho Vũ Xuân ÁPhạm Thị T1 đối chất, hai bên giữ nguyên lời khai.

Ông Phạm Công L khai: Ông L làm nghề kinh doanh xe vận tải hành khách và hàng hóa. Vào khoảng 21 giờ đến 22 giờ ngày 06/12/2023, Á có chở 03 thùng carton đến, thuê chở tới địa chỉ F T, H, Hải Phòng. Hai bên thống nhất giá cước vận chuyển là 200.000 đồng. Ông Lưu không kiểm tra số hàng hóa mà Á đã gửi. Khi Cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện ông mới biết 03 thùng Ánh gửi là thuốc lá điếu nhập lậu. Ánh không cung cấp thông tin gì liên quan đến hàng hóa, không đưa giấy tờ gì liên quan đến nguồn gốc, xuất xứ của số hàng đó.

Đối với hành vi của Phạm Công L, ông Lưu k biết việc Á giao và chở thuốc lá điếu nhập lậu nên Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L xử lý.

Đối với chị Phạm Thị T1, tài liệu điều tra xác định chị T1 không gọi điện cho Á vào khoảng thời gian như Á khai. Ánh không khẳng định mà chỉ suy diễn người nữ giới hỏi mua thuốc lá chị T1. Do vậy Cơ quan cảnh sát điều tra không có căn cứ xử lý.

Đối với nam giới tên H1 bán thuốc lá điếu nhập lậu cho Á và nữ giới hỏi mua thuốc lá điếu nhập lậu của Á quá trình điều tra không xác định được căn cước, lai lịch. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L có cơ sở để điều tra, làm rõ.

Đối với chiếc ô tô BKS: 15B-033.74 ông L sử dụng để chở thuốc lá điếu cho Á, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của Hợp tác xã V, hiện đang cho ông L thuê. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đã trả lại cho ông L quản lý, sử dụng.

Bản Cáo trạng số 79/CT-VKS ngày 03/4/2024, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố bị cáo Vũ Xuân Á về tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Vũ Xuân Á là người khuyết tật nặng nhưng tại phiên toà bị cáo từ chối sự tham gia của người bào chữa và đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo Vũ Xuân Á và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 190; điểm p, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Vũ Xuân Á số tiền từ 100 triệu đến 150 triệu đồng về tội “Buôn bán hàng cấm”. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung vì đã đề nghị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ toàn bộ thuốc lá điếu nhập lậu do nước ngoài sản xuất; đề nghị tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước toàn bộ thuốc lá do Việt Nam sản xuất.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện là đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

- Về căn cứ xác định tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo:

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của những người liên quan, biên bản bắt người phạm tội quả tang, báo cáo bắt giữ của lực lượng công an, vật chứng thu giữ, tài liệu khác có trong hồ sơ thể hiện: Ngày 07/12/2023 Vũ Xuân Á thuê người chở thuốc lá ra khu vực vỉa hè trước cửa nhà số B đường V, phường N, quận L, Hải Phòng để giao dịch mua bán thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất không dán tem nhập khẩu (thuốc lá điếu nhập lậu) với số lượng 1.500 bao. Hành vi của bị cáo đã thoả mãn cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đối với bị cáo Vũ Xuân Á về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý nhà nước về quản lý một số loại hàng hoá có tính năng đặc biệt nên cần xét xử bị cáo nghiêm.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

[4] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[5] Bị cáo là người khuyết tật nặng hiện đang được hưởng trợ cấp tại địa phương, tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo khai báo thành khẩn, sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú nên xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo như đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo có

nhiều tình tiết giảm nhẹ và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại phiên toà, bị cáo và đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền. Xét bị cáo có đủ khả năng để áp dụng hình phạt tiền, đồng thời hành vi của bị cáo không còn gây nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy, không cần thiết phải áp dụng hình phạt cảo tạo, cách ly đối với bị cáo mà chỉ cần áp dụng hình phạt chính là phạt tiền cũng đảm bảo tính răn đe và phù hợp với quy định tại Điều 190 Bộ luật hình sự.

[7] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo đã bị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 33 Bộ luật hình sự.

[8] Cần hủy bỏ biện pháp ngăn chặn bị cáo đang thực hiện theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Về xử lý vật chứng:

[9] Đối với số thuốc lá ngoại nhập lậu không rõ chất lượng, không rõ nguồn gốc xuất xứ, là vật nhà nước cấm lưu hành nên căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với số thuốc lá của Việt Nam sản xuất bị cáo sử dụng để che giấu thuốc lá nhập lậu là công cụ, phương tiện phạm tội nên căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

- Về án phí:

[12] Bị cáo là người khuyết tật nặng nên được miễn án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 190; điểm p, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Vũ Xuân Á 110.000.000 đồng (Một trăm mười triệu đồng) về tội “Buôn bán hàng cấm”.

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ:

  • - 430 bao thuốc lá của mẫu M1 được niêm phong lại trong một thùng giấy, dấu niêm phong số 24HH-T1/PC09 và chữ ký của giám định viên.
  • - 440 bao thuốc lá của mẫu M2 được niêm phong lại trong một thùng giấy, dấu niêm phong số 24HH-T2/PC09 và chữ ký của giám định viên.
  • - 450 bao thuốc lá của mẫu M3; 06 bao thuốc của mẫu M4 được niêm phong lại trong một thùng giấy, dấu niêm phong số 24HH-T3/PC09 và chữ ký của giám định viên.

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước:

  • - 460 bao thuốc lá của mẫu M5; 22 bao thuốc của mẫu M6 được niêm phong lại trong một thùng giấy, dấu niêm phong số 24HH-T4/PC09 và chữ ký của giám định viên.

(Theo biên bản giao, nhận tài sản vật chứng ngày 03/4/2024 giữa Công an quận L và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng).

Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án bị cáo được miễn án phí.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7A và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - VKSND thành phố;
  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - Công an quận Lê Chân;
  • - Phòng PV06; PC10;
  • - THA hình sự;
  • - Chi cục THADS quận Lê Chân;
  • - Sở tư pháp;
  • - Trại tạm giam CA tp Hải Phòng;
  • - Lưu: HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Hà

8

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Mai Nguyễn Văn H2

Nguyễn Ngọc H3

9

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - Công an quận Lê Chân;
  • - Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân;
  • - Lưu: HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Nam Ninh

10

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2024/HS-ST ngày 14/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về buôn bán hàng cấm (tội phạm hình sự)

  • Số bản án: 75/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm (Tội phạm hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán hàng cấm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger