|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 75/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 14-5-2024.
V/v tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn, nuôi con chung
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Bích Thơ
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Phạm Văn Liệt
- Bà Võ Thị Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thế Nhân, Kiểm sát viên.
Trong các ngày 25 tháng 4 và ngày 14 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 90/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp hôn nhân gia đình, ly hôn, nuôi con chung, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 58/2024/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm: 1989 (vắng mặt có đơn xin vắng mặt);
Nơi cư trú: Ấp N, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm: 1984 (vắng mặt không có lý do).
Nơi cư trú: Ấp N, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 08/8/2023, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải và trong quá trình xét xử;
- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày: Về hôn nhân: Chị T và anh T1 tự nguyện tìm hiểu nhau khoảng gần 02 năm, đến năm 2006 chung sống như vợ chồng, không có tổ chức đám cưới, chỉ tổ chức tiệc cho gia đình hai bên gặp mặt, đăng ký kết hôn tại UBND xã T ngày 21/5/2010. Chị T và T1 sống chung với gia
2
đình ba mẹ ruột của chị T ở ấp N, xã T, đến khoảng 03 năm sau mới xây dựng nhà ra ở riêng cho đến nay. Chị T và anh T1 mâu thuẩn do bất đồng quan điểm sống, anh T1 đi làm công nhân từ chổ này đến chổ khác lâu lâu mới về nhà, một mình chị T ở nhà chăm 02 con nhỏ, lúc trước mỗi tháng anh T1 có đưa cho chị T khoảng 1-2 triệu, nhưng khoảng gần hơn nữa năm nay không có đưa tiền phụ giúp kinh tế cho cho chị T, chỉ lâu lâu mới mua sắm đồ cho con. Do anh T1 đi làm không phụ giúp kinh tế, lâu lâu mới về thăm con một lần, không quan tâm chăm sóc gia đình nên tình cảm vợ chồng phai nhạt, không còn tiếng nói chung, không quan tâm lẫn nhau, mỗi lần anh T1 về thì vợ chồng hay cự cải, anh T1 xách đồ bỏ đi. Về con chung 02 người con chung tên Nguyễn Văn H, sinh ngày 22/11/2007 và Nguyễn Thái H1, sinh ngày 05/6/2014, hiện nay do chị T đang nuôi dưỡng, cháu H đã nghỉ học và đi làm phục vụ, con cháu H1 vẫn đang đi học lớp 2. Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nay chị Nguyễn Thị T yêu cầu ly hôn với anh T1, con chung yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Văn H và Nguyễn Thái H1, yêu cầu anh T1 cấp dưỡng cho con, mỗi tháng là 1.000.000đ cho mỗi cháu, tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn anh Nguyễn Văn T1: Vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2, đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải 02 lần, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh T1 không cung cấp văn bản ý kiến về việc yêu cầu khởi kiện của chị T, cũng như tham dự phiên hòa giải và phiên tòa 02 lần nên tòa án không thu thập được lời khai, ý kiến của anh T1 về yêu cầu khởi kiện của chị T.
- Tại phiên tòa Kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật như đến tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, không có văn bản trình bày ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho mình là vi phạm Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự, cần phê phán rút kinh nghiệm.
Về ý kiến giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83, Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Về hôn nhân chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị T đối với anh Nguyễn Văn T1, về con chung chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị T về việc giao con chung cho chị T nuôi dưỡng, về cấp dưỡng chấp nhận yêu cầu cấp dưỡng của chị Nguyễn Thị T, anh Nguyễn Văn T1 phải cấp dưỡng cho con với mức cấp dưỡng mỗi tháng là 1.000.000đ/ cháu (Một triệu đồng).
3
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về pháp luật tố tụng:
[1.1.] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Nguyễn Văn T1, hiện nay đăng ký hộ khẩu thường trú ấp N, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, nguyên đơn khởi kiện tại Tòa án nơi bị đơn cư trú, nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2.] Về quan hệ pháp luật: Chị T và anh T1, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, nay chị T yêu cầu ly hôn với anh T1, yêu cầu nuôi con, nên phát sinh tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn và nuôi con chung. Tòa án thụ lý giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3] Về pháp luật áp dụng: Tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn, nuôi con, nên Hội đồng xét xử áp dụng quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.
[1.4.] Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị T vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh T1 vắng mặt lần thứ 2 không có lý do chính đáng, căn cứ Kết quả xác minh của Công an xã T, anh T1 có thường trú tại số nhà A, ấp N, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp và thường xuyên sinh sống tại địa chỉ nêu trên. Hội đồng xét xử xét thấy nguyên đơn vắng mặt có lý do, bị đơn anh T1 cố tình vắng mặt, không có ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn, bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T và anh T1 là phù hợp và đúng theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị T và anh T1 là hoàn toàn tự nguyện và thực tế đã xảy ra, anh chị có đăng ký kết hôn theo quy định. Trong quá trình chung sống xuất phát từ mâu thuẩn do bất đồng quan điểm sống thường hay cự cãi, mâu thuẩn về kinh tế, anh T1 không quan tâm chăm sóc, gia đình, dẫn đến mâu thuẩn ngày càng trầm trọng, nên không thể hàn gắn đoàn tụ.
Nay chị T yêu cầu ly hôn với T1, Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân là sự tự nguyện, không ai cưỡng ép hay ép buộc, cả hai phải tôn trọng, giúp đở, chăm sóc, giữ gìn hạnh phúc gia đình, để nuôi dạy con, nhưng giữa chị T và anh T1 không có sự gắn kết, không có tiếng nói chung, không tôn trọng nhau, mâu thuẩn trầm trọng, kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Mặt khác, chị T và anh T1 đã được Tòa án thông báo hòa giải 02 lần để tạo cơ hội cho anh chị hàn gắn tình cảm,
4
nhưng anh T1 không đến, từ đó cho thấy anh T1 không muốn hàn gắn đoàn tụ với chị T.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị T đối với anh Nguyễn Văn T1 phù hợp và đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung:
[2.2.1.] Về nuôi con chung chưa thành niên: Có 02 người con chung tên Nguyễn Văn H, sinh ngày 22/11/2007 và Nguyễn Thái H1, sinh ngày 05/6/2014, chị T yêu cầu tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H và cháu H1. Anh T1 không có ý kiến hay yêu cầu về việc nuôi dưỡng cháu H và cháu H1. Hiện nay cháu H và cháu H1 đang do chị T chăm sóc, nuôi dưỡng và nguyện vọng của cháu H và cháu H1 được chị T chăm sóc, nuôi dưỡng đến trưởng thành. Để đảm bảo cho cháu H và cháu H1 có cuộc sống ổn định, phát triển tốt về tinh thần và thể chất, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các cháu, phù hợp với nguyện vọng của 02 cháu và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chưa thành niên sau khi ly hôn.
Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của chị T đối với anh T1, tiếp tục giao cháu Nguyễn Văn H, sinh ngày 22/11/2007 và Nguyễn Thái H1, sinh ngày 05/6/2014 cho chị T nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến trưởng thành đủ 18 tuổi là phù hợp với Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Anh T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom cháu H và cháu H1 không ai được cản trở.
[2.2.2.] Về cấp dưỡng cho con: Chị T yêu cầu anh T1 cấp dưỡng cho cháu H và cháu H1, với mức cấp dưỡng là 1.000.000đ/tháng cho mỗi cháu, anh T1 không có ý kiến về việc cấp dưỡng cho con, căn cứ quy định tại Điều 110, 116 Luật hôn nhân và gia đình, do anh T1 là người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên. Tuy nhiên, mức cấp dưỡng chị T yêu cầu là 1.000.000đ/tháng cho mỗi cháu là chưa phù hợp với quy định pháp luật và anh T1 làm công nhân bốc vác với mức cấp dưỡng nêu trên là chưa phù hợp với điều kiện kinh tế và thu nhập của anh T1. Mặt khác cháu H đã đi làm và có thu nhập. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu cấp dưỡng cho con của chị T đối với anh T1 với mức cấp dưỡng là ½ tháng lương cơ sở theo quy định cho mỗi cháu.
[2.3] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.4] Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.5] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
5
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Bị đơn anh Nguyễn Văn T1 phải chịu án phí cấp dưỡng cho con là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).
[3] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với một phần nhận định của Hội đồng xét xử do đó được chấp nhận một phần.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 110, 116 Luật hôn nhân gia đình; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị T đối với anh Nguyễn Văn T1, cho chị Nguyễn Thị T ly hôn với anh Nguyễn Văn T1.
2. Về con chung: Chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của chị Nguyễn Thị T đối với anh Nguyễn Văn T1. Giao cháu Nguyễn Văn H, sinh ngày 22/11/2007 và Nguyễn Thái H1, sinh ngày 05/6/2014 cho chị Nguyễn Thị T tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Văn T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng hàng tháng cho cháu Nguyễn Văn H, sinh ngày 22/11/2007 và cháu Nguyễn Thái H1, sinh ngày 05/6/2014 với mức cấp dưỡng cho mỗi cháu là ½ tháng lương cơ sở đến khi cháu Nguyễn Văn H và cháu Nguyễn Thái H1 đủ 18 tuổi, thời hạn cấp dưỡng kể từ ngày xét xử sơ thẩm là ngày 14/5/2024.
Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Văn T1 không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Anh Nguyễn Văn T1 không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Nguyễn Thị T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm con của anh Nguyễn Văn T1.
3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị T đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tiền tạm ứng
6
án phí số 0006363 ngày 27/02/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp, chị Nguyễn Thị T không phải nộp thêm.
Bị đơn anh Nguyễn Văn T1 phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng cho con.
Các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 14/5/2024). Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lý Thị Bích Thơ |
Bản án số 75/2024/HNGĐ-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 75/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
