|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA ,TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Mai Văn Hiệp.
Các hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Đổi.
- Ông Nguyễn Chí Lin.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hảo là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 368/2024/TLST – DS ngày 09 tháng 4 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 132/2024/QĐXXST – DS, ngày 24 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Quỹ tín dụng nhân dân Đ do ông Nguyễn Ngọc Hoàng A – Chủ tịch Hội đồng quản trị đại diện.
Trụ sở: Số B, đường Q, ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người được ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Đức T – Cán bộ tín dụng (Theo văn bản ủy quyền ngày 01 tháng 4 năm 2024).
2. Bị đơn: Ông Trương Văn P, sinh năm 1969; Bà Hà Thị M, sinh năm 1972.
Cùng địa chỉ: Ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
(Ông T và ông P, bà M xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 01 tháng 4 năm 2024 và những lời khai trong quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Đức T đại diện cho Quỹ tín dụng nhân dân Đ trình bày:
Ngày 16 tháng 01 năm 2023, Quỹ tín dụng nhân dân Đ có cho ông Trương Văn P và bà Hà Thị M vay số tiền là 15.000.000đồng, lãi suất 15%/năm. Mục đích vay là mua thiết bị nội thất theo Hợp đồng tín dụng số 1-0027110, thời hạn vay 12 tháng.
Thực hiện hợp đồng, ông P và bà M đã trả cho Q tín dụng nhân dân Đức Lập tổng số tiền 9.252.000đồng (Trong đó, nợ gốc 8.502.000đồng; tiền lãi 750.000đồng)
Tính đến ngày 01 tháng 4 năm 2024, ông P và bà M còn nợ số tiền 8.321.536đồng (Trong đó, nợ gốc 6.498.000đồng; tiền lãi 1.500.000đồng; lãi quá hạn 323.536đồng).
Nay ông T đại diện cho Quỹ tín dụng nhân dân Đ yêu cầu ông P và bà M trả số tiền 8.321.536đồng (Trong đó, nợ gốc 6.498.000đồng; tiền lãi 1.500.000đồng; lãi quá hạn 323.536đồng). Trong trường hợp ông P và bà M không thanh toán thì ông P và bà M còn phải trả thêm lãi phạt nợ quá hạn phát sinh theo hợp đồng cho vay đã ký kết (Lãi phạt quá hạn 22,5%/năm).
Tại lời trình bày của ông Trương Văn P: Ông P thống nhất có vay Quỹ tín dụng nhân dân Đức Lập số tiền 15.000.000đồng và đã trả còn nợ lại như Quỹ tín dụng nhân dân Đ đã trình bày. Nay Quỹ tín dụng nhân dân Đ yêu cầu ông P và bà M trả nợ thì ông P đồng ý và xin trả dần mỗi tháng 500.000đồng cho đến khi hết nợ.
Đối với bà M không có ý kiến gì qua yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng nhân dân Đ mà chỉ xin vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả xét hỏi tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”; Bị đơn ông Trương Văn P và bà Hà Thị M có hộ khẩu thường trú tại ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Nguyên đơn và bị đơn đều xin vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt họ.
[2] Về nội dung vụ án: Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ có trong hồ sơ và lời trình bày của các đương sự thì Hội đồng xét xử thấy rằng: Vào ngày 16 tháng 01 năm 2023, Quỹ tín dụng nhân dân Đ có cho ông Trương Văn P và bà Hà Thị M vay số tiền là 15.000.000đồng, lãi suất 15%/năm. Mục đích vay là mua thiết bị nội thất theo Hợp đồng tín dụng số 1-0027110, thời hạn vay 12 tháng.
Thực hiện hợp đồng, tính đến ngày 01 tháng 4 năm 2024 thì ông P và bà M còn nợ số tiền 9.252.000đồng (Trong đó, nợ gốc 8.502.000đồng; tiền lãi 750.000đồng) và còn nợ số tiền 8.321.536đồng (Trong đó, nợ gốc 6.498.000đồng; tiền lãi 1.500.000đồng; lãi quá hạn 323.536đồng) nhưng đến nay không trả. Xét thấy, việc cho vay giữa hai bên đương sự là hoàn toàn tự nguyện, hai bên đương sự tự thỏa thuận với nhau. Ông P và bà M có vay số tiền 15.000.000đồng và đã trả dần còn nợ lại số tiền 8.321.536đồng nhưng đến nay ông P, bà M không trả tiền cho Q tín dụng nhân dân Đức Lập. Do vậy, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của Quỹ tín dụng nhân dân Đ nên cần buộc ông N phải có trách nhiệm trả cho Q tín dụng nhân dân Đức Lập số tiền 8.321.536đồng là phù hợp với Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự.
[3] Về án phí: Buộc ông Trương Văn P và bà Hà Thị M có trách nhiệm liên đới chịu án phí Dân sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 92, 144, 147, khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 463, 466, 468, 357 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 91, khoản 2, 3 Điều 95, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực ngày 01 tháng 01 năm 2011;
Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án;
Tuyên Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng nhân dân Đ về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với ông Trương Văn P và bà Hà Thị M.
Buộc ông Trương Văn P và bà Hà Thị M có trách nhiệm liên đới trả cho Q tín dụng nhân dân Đức Lập số tiền 8.321.536đồng (Trong đó, nợ gốc 6.498.000đồng; tiền lãi 1.500.000đồng; lãi quá hạn 323.536đồng).
Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi suất của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Về án phí: Buộc ông Trương Văn P và bà Hà Thị M có trách nhiệm liên đới chịu 436.000đồng án phí Dân sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước. Hoàn trả lại cho Q tín dụng nhân dân Đức Lập số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí tại biên lai thu 0698 ngày 02 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa.
Án này là sơ thẩm, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết./.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án là 05 năm theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
|
TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 368/2024/TLST – DS ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 368/2024/TLST – DS
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tin dung
