|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 75/2024/HS-ST Ngày: 13 – 11 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Ngọc Nghĩa.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Hoàng Mỹ DungNghề nghiệp: Phó trưởng phòng Giáo dục.
Ông Mai ThươngNghề nghiệp: Cán bộ hưu trí.
- Thư ký phiên toà: Ông Trịnh Văn Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Lê Quang Trí - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 74/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 19/2024/HSST-QĐ ngày 07 tháng 11 năm 2024 và Quyết định thay đổi Thư ký số 25/2024/QĐ-TĐ ngày 12 tháng 11 năm 2024, đối với các bị cáo:
1/ Trần Văn P (Tên gọi khác: T em), sinh ngày 26/11/2007 (Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 22 ngày) tại Bình Thuận;
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn F, xã G, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn O, sinh năm 1960 và bà Trần Thị H, sinh năm 1966; Gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; chưa có vợ, con;
Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị bắt và trả tự do cùng ngày 18/12/2023. Bị cáo hiện đang tại ngoại theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
2/ Nguyễn Phi H1, sinh ngày 03/8/2004 tại Bình Thuận;
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn A, xã G, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Khắc Đ, sinh năm 1980 và bà Nguyễn Thị Thùy D, sinh năm 1977; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; chưa có vợ, con;
Tiền án: không; Tiền sự: Không.
Bị bắt và trả tự do cùng ngày 18/12/2023. Bị cáo hiện đang tại ngoại theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Văn P: Ông Trần Văn O, sinh năm 1960 (Vắng mặt) và bà Trần Thị H, sinh năm 1966 (Có mặt), là cha, mẹ của bị cáo.
Nơi cư trú: Thôn F, xã G, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh xã G, huyện T, tỉnh Bình Thuận: Ông Đinh Hoàng L – Là Bí thư đoàn xã G (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn G, xã G, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn P: Bà Văn Thị M, Luật sư văn phòng luật sư Văn Thị M, thuộc Đoàn luật sư tỉnh B (Có mặt).
Nơi làm việc: Số D, đường C, khu phố A, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
- Người làm chứng: Đinh Lương Gia B, sinh năm 2005 (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ 50 phút ngày 18 tháng 12 năm 2023, Công an xã Đ, huyện Đ tổ chức lực lượng tuần tra đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn, khi đi trên tuyến đường C - Bến đò thuộc thôn D, xã Đ thì phát hiện 02 thanh niên đi chung trên 01 xe mô tô biển số 86B7 – 490.64 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành dừng phương tiện của 02 thanh niên này kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện trong balo của thanh niên ngồi sau xe có 04 khối hình hộp có hình ảnh pháo hoa nhiều màu sắc, đều có kích thước (16,5 x 16,5 x 10)cm, trong đó có 01 hộp có ký hiệu KS4-4911 N BILLION LIVE E, 03 hộp còn lại có ký hiệu KS4 4911 L BILLION LIVE. Thanh niên ngồi sau xe mang balo có chứa 04 hộp pháo trên khai nhận tên Trần Văn P, thanh niên điều khiển xe mô tô khai nhận tên Nguyễn Phi H1. Trần Văn P và Nguyễn Phi H1 khai nhận đang trên đường đi giao pháo nổ cho một người sử dụng tài khoản Facebook “Van Anh” ở xã Đ thì bị lực lượng Công an tuần tra, phát hiện.
Vật chứng thu giữ: 01 ba lô màu xám, bên trong có 04 khối hình hộp có hình ảnh pháo hoa nhiều màu sắc, đều có kích thước (16,5 x 16,5 x 10)cm, trong đó có 01 hộp có ký hiệu KS4-4911 N BILLION LIVE E, 03 hộp còn lại có ký hiệu KS4 4911 L BILLION LIVE; 01 điện thoại di động hiệu REDMI màu trắng; số tiền 1.040.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu xanh dương; 01 xe mô tô hiệu Honda biển kiểm soát 86B7 – 490.64.
Tại Kết luận giám định số 1479/KL-KTHS ngày 30/12/2023 của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận:
- 49 ống giấy hình trụ tròn (mỗi ống có chiều dài 10cm, đường kính 2,5cm) được chứa trong 01 khối hình hộp chữ nhật có ký hiệu KS4 – 4911N BILLION LIVE E, có kích thước (16,5 x 16,5 x 10)cm, bao bì có nhiều màu sắc gửi giám định: là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ; bên trong có chứa thành phần thuốc pháo; khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu; tổng khối lượng là 1,5kg.
- 147 ống giấy hình trụ tròn (mỗi ống có chiều dài 10cm, đường kính 2,5cm) được chứa trong 03 khối hình hộp chữ nhật có ký hiệu KS4 – 4911L BILLION LIVE, có kích thước (16,5 x 16,5 x10)cm, bao bì có nhiều màu sắc gửi giám định: là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ; bên trong có chứa thành phần thuốc pháo; khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu; tổng khối lượng là 4,55kg.
Tổng khối lượng pháo trong thùng carton bên ngoài có chữ Vĩnh Hảo được niêm phong là 6,05kg.
Quá trình điều tra xác định như sau: khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 17/12/2023, Trần Văn P đang ở thành phố Hồ Chí Minh thì phần mềm messenger của P có 01 tài khoản tên là “Van A” nhắn tin hỏi mua pháo nổ. Vì đang bận nên P chuyển hình ảnh cho facebook có tên “Duy Hào”, nhà ở xã G, huyện T, tỉnh Bình Thuận cho tài khoản “Van A”. Sau đó tài khoản “Van A” nhắn tin trực tiếp cho tài khoản “Duy Hào” và thống nhất số tiền 6.100.000 đồng cho 04 hộp pháo hoa nổ với giá 1.525.000 đồng/ 01 hộp. Sau đó chủ tài khoản “Duy H2” nhắn tin cho P báo đã bán được cho tài khoản “Van Anh” 04 hộp pháo hoa nổ và nói P đi giao 04 hộp pháo cho tài khoản “Van Anh” và thu về số tiền 6.100.000 đồng. Sẽ trả tiền công đi giao pháo và môi giới cho P là 800.000 đồng. P đồng ý và điện thoại rủ Nguyễn Phi H1 cùng đi giao pháo nổ với P thì Nguyễn Phi H1 đồng ý. Đến khoảng 11 giờ ngày 18/12/2023, P đến nhà thờ G là địa chỉ đã hẹn của “Duy Hào” để lấy 04 hộp pháo nổ. Sau khi nhận pháo nổ, P đã chủ động liên hệ với tài khoản “Van Anh” để giao pháo nổ thì được hẹn đến khu vực ngã ba cây sung thuộc thôn D, xã Đ để mua bán pháo nổ. Sau đó, P đến nhà của Nguyễn Phi H1 để đi cùng P giao pháo nổ, sau khi giao thành công thì P sẽ đưa tiền công cho H1 là 400.000 đồng. Đến khoảng 14 giờ ngày 18/12/2023, khi H1 chở P ngồi phía sau mang balo bên trong có chứa 04 hộp pháo hoa nổ, điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 86B7 – 490.64 đến khu vực ngã ba cây sung thuộc thôn D, xã Đ thì bị lực lượng Công an yêu cầu dừng lại kiểm tra.
- Xe mô tô biển kiểm soát 86B7 – 490.64 là tài sản của ông Nguyễn Khắc Đ. Việc bị cáo Nguyễn Phi H1 sử dụng xe mô tô để đi giao pháo thì ông Đ không biết.
Với những tình tiết nêu trên tại Cáo trạng số 70/CT-VKSÐL-HS ngày 02/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh đã truy tố các bị cáo Trần Văn P, Nguyễn Phi H1 về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo không có ý kiến và nhất trí với Bản Kết luận giám định số 1479/KL-KTHS ngày 30/12/2023 của Phòng K - Công an tỉnh B.
Đại diện VKSND huyện Đức Linh giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố các bị cáo Trần Văn P, Nguyễn Phi H1 phạm tội “Buôn bán hàng cấm"
- Về hình phạt:
+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 35 và Chương XII Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Phạt tiền bị cáo Trần Văn P mức án từ 55.000.000 đồng đến 65.000.000 đồng.
+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Phạt tiền bị cáo Nguyễn Phi H1 mức án từ 100.000.000 đồng đến 120.000.000 đồng.
Ngoài ra đại diện VKS còn đề nghị về xử lý vật chứng, án phí theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo, người đại diện hợp pháp không có ý kiến tranh luận.
Người bào chữa cho bị cáo P tranh luận: Thống nhất với tội danh mà Viện kiểm sát truy tố. Đề nghị áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo P phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên cần áp dụng các quy định tại Chương XII Bộ luật Hình sự. Bị cáo hiện nay có công việc ổn định, có tài sản để đóng tiền phạt nên đề nghị áp dụng hình phạt tiền cho bị cáo.
Kiểm sát viên trả lời: Đối với mức án đề nghị cho bị cáo P thì Viện kiểm sát đã xem xét, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân lý lịch của bị cáo một cách thận trọng nên mới đưa ra mức đề nghị trên. Bị cáo P phạm tội khi đã đủ 16 tuổi nên đã được giảm nhẹ ½ mức hình phạt tiền. Đối với tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, do tội phạm mà bị cáo thực hiện là tội nghiêm trọng nên không được áp dụng tình tiết phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Đã nhận ra lỗi lầm của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa vắng mặt đại diện đoàn thanh niên cộng sản Hồ chí Minh xã G đã có đơn xin xét xử vắng mặt; vắng mặt người đại diện hợp pháp của bị cáo là ông Trần Văn O nhưng tại phiên toà có mặt người đại diện hợp pháp khác của bị cáo là bà Trần Thị H, cũng có người bào chữa cho bị cáo P, bị cáo và người đại diện của bị cáo đề nghị tiếp tục xét xử vụ án; vắng mặt người làm chứng Đinh Lương Gia B nhưng đã có lời khai làm rõ trong hồ sơ vụ án, không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng trên.
[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cơ bản phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; kết luận giám định; biên bản xác định hiện trường; lời khai của người làm chứng và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở xác định:
[2.1] Về hành vi phạm tội:
Khoảng 11 giờ ngày 18 tháng 12 năm 2023, Nguyễn Phi H1 điều khiển xe mô tô 86B7 – 490.64 chở Trần Văn P phía sau mang 01 balo có chứa 04 hộp pháo nổ có tổng khối lượng 6,05kg, đi từ xã G, huyện T đến xã Đ, huyện Đ với mục đích là để bán cho người sử dụng tài khoản Facebook “Van Anh”. Đến khoảng 13 giờ 50 phút cùng ngày, khi P và H1 đến khu vực ngã ba Cây sung thuộc thuộc thôn D, xã Đ thì bị Công an xã Đ phát hiện, bắt quả tang.
[2.2] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các loại hàng hóa mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm tàng trữ, cấm sử dụng, cấm buôn bán, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh thương mại được pháp luật bảo vệ, đồng thời ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, tiềm ẩn nhiều rủi ro, cháy nổ, gây ô nhiễm, lãng phí. Các bị cáo hoàn toàn nhận thức được pháo nổ là mặt hàng Nhà nước cấm buôn bán và việc buôn bán pháo nổ là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện.
Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người và đúng tội.
[2.3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
- Về tình tiết tăng nặng: Không.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo P phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên được áp dụng các quy định tại Chương XII Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân tốt.
[2.4] Về vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Bị cáo P là người trực tiếp liên hệ việc mua bán pháo nổ và là người khởi xướng, rủ rê bị cáo H1 đi bán pháo nổ nên mức án dành cho bị cáo P phải cao hơn bị cáo H1. Tuy nhiên, tại thời điểm phạm tội, bị cáo P chưa đủ 18 tuổi nên mức hình phạt sẽ được xem xét theo quy định tại Chương XII Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[2.5] Về hình phạt chính: Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy, các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, khối lượng pháo nổ buôn bán nhỏ, tội phạm mang tính chất vụ lợi, có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, các bị cáo có công việc ổn định, có tài sản, xét nghĩ không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội, chỉ cần phạt tiền là đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo là phù hợp với quy định tại Điều 31, 35 và 190 của Bộ luật Hình sự, nhằm thể hiện tính nhân đạo và chính sách khoan hồng của pháp luật.
[2.6] Về hình phạt bổ sung: Đã áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không cần thiết phải phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo.
[3] Về xử lý vật chứng:
- 45 ống giấy hình trụ tròn trong 01 khối hình hộp có ký hiệu KS4 – 4911N BILLION LIVE E và 138 ống giấy hình trụ tròn trong 03 khối hình hộp có ký hiệu KS4 – 4911L BILLION LIVE hoàn lại sau giám định, là vật cấm tàng trữ, lưu hành, cần tịch thu, tiêu huỷ.
- 01 balo màu xám là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu, tiêu huỷ.
- 01 xe mô tô biển số 86B7 – 490.64 là tài sản của ông Nguyễn Khắc Đ, việc Nguyễn Phi H1 sử dụng xe mô tô trên thực hiện hành vi phạm tội thì Nguyễn Khắc Đ không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp.
- 01 điện thoại di động hiệu REDMI màu trắng là tài sản của Trần Văn P, 01 điện thoại di động hiệu IPHONE màu xanh dương là tài sản của Nguyễn Phi H1, hai điện thoại trên được các bị cáo sử dụng để liên lạc trong quá trình mua bán pháo nổ, thực hiện tội phạm, là công cụ phạm tội nhưng cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho các bị cáo là chưa phù hợp. Tuy nhiên, hiện nay các điện thoại trên không thu hồi được.
- Số tiền 1.040.000 đồng tiền Việt Nam là tài sản của Trần Văn P, không liên quan đến tội phạm. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho bị cáo P là phù hợp.
[4] Đối với đối tượng sử dụng tài khoản Facebook “Duy Hào” và “Van Anh” chưa xác định được cụ thể nhân thân, lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiếp tục tiến hành xác minh, xử lý sau là phù hợp.
[5] Xét các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, áp dụng điều luật, hình phạt, xử lý vật chứng là có căn cứ nên cần chấp nhận.
[6] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tuy nhiên, việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ trả lại vật chứng là công cụ phạm tội, dẫn đến việc không thể thu hồi để xử lý là vị phạm quy định về xử lý vật chứng. Kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tổ chức kiểm điểm, xử lý trách nhiệm về vi phạm trên.
[7] Về án phí: Các bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 35 và Chương XII Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn P phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Phạt tiền bị cáo Trần Văn P số tiền 55.000.000 đồng (Năm mươi lăm triệu đồng) để nộp vào ngân sách nhà nước.
2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phi H1 phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Phạt tiền bị cáo Nguyễn Phi H1 số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) để nộp vào ngân sách nhà nước.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Tịch thu, tiêu huỷ:
- 45 ống giấy hình trụ tròn có ký hiệu KS4 – 4911N BILLION LIVE E và 138 ống giấy hình trụ tròn có ký hiệu KS4 – 4911L BILLION LIVE.
- 01 balo màu xám.
(Các vật chứng trên đang lưu giữ tại chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 01/11/2024)
4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Buộc bị cáo Trần Văn P, Nguyễn Phi H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 13/11/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Ngọc Nghĩa |
Bản án số 75/2024/HS-ST ngày 13/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về buôn bán hàng cấm (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 75/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm (Hình sự Sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn P và đồng phạm "Buôn bán hàng cấm"
