Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LẠNG SƠN

TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2024/HS-ST

Ngày 13-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hứa Thị Thanh Xuyến.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Dương Việt Hưng.

Bà Hoàng Thị Xuân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Phấn – Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Khanh - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 67/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Duy T; sinh ngày 16 tháng 10 năm 1991 tại tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số A, đường B, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; số căn cước công dân: [...], cấp ngày 09/5/2021; nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về Trật tự xã hội - Bộ C; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Duy T1 (đã chết) và bà Đỗ Thúy L; có vợ là Hà Thị Q và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa từng bị kết án, xử lý hành chính, xử lý kỷ luật. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/01/2024, tạm giam từ ngày 02/02/2024 đến nay. Có mặt.

- Người chứng kiến: Ông Hoàng Văn V. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ ngày 30/01/2024, tại khu vực đường B, phường H, thành phố L, tổ công tác Công an thành phố L tiến hành làm việc với Nguyễn Duy T là đối tượng có biểu hiện sử dụng ma túy, kết quả xét nghiệm xác định Nguyễn Duy T dương tính với các chất ma túy THC, MET, AMP. Nguyễn Duy T thừa nhận bản thân sử dụng ma túy “đá”, “ngựa” và đang còn cất giấu một lượng ma túy chưa sử dụng tại nhà mục đích để sử dụng cho bản thân.

Cùng ngày 30/01/2024, Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Duy T tại địa chỉ số A, đường B, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, thu giữ trên mặt bàn phía sau gian bếp 01 mảnh giấy bạc (kích thước 17,8cm x 1,6cm) bám dính chất màu đen và 01 túi nilon màu trắng (kích thước 03cm x 03cm) chứa chất bột màu hồng; thu giữ trong phòng ngủ của Nguyễn Duy T 01 bình thủy tinh gắn vòi hút nhựa.

Quá trình giữ người trong trường hợp khẩn cấp, Cơ quan điều tra tạm giữ của Nguyễn Duy T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen, số IMEI 354756103045810/01 lắp kèm sim số 0386.630.678 và 0343.283.316. Kiểm tra điện thoại trên không thấy hiển thị dữ liệu tin nhắn, cuộc gọi đi, đến lưu trong điện thoại và ứng dụng Zalo.

Tại Kết luận giám định số 278/KL-KTHS ngày 01/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh L xác định: Chất màu đen bám dính trên bề mặt 01 mảnh giấy bạc (kích thước 1,6cm x 17,8cm) là chất ma túy Methamphetamine, có khối lượng 0,112 gam (đã trừ bì); chất bột màu hồng có trong 01 túi nilon màu trắng (kích thước 03cm x 03cm) là chất ma túy Methamphetamine, có khối lượng 0,042 gam (đã trừ bì). Tổng khối lượng ma tuý là 0,154 gam (đã trừ bì).

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Duy T khai nhận bản thân đã sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2020. Khoảng 14 giờ ngày 28/01/2024, Nguyễn Duy T đi đến khu vực phía sau Bưu điện tỉnh L gặp và nhờ được một người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) mua hộ 300.000 đồng được 01 túi nilon màu trắng chứa 02 viên ma túy “ngựa” và một lượng nhỏ ma túy “đá”. Nguyễn Duy T mang ma túy về nhà sử dụng hết một phần, phần còn lại bị thu giữ như nêu trên.

Người chứng kiến ông Hoàng Văn V trình bày: Khoảng 16 giờ 40 phút ngày 30/01/2024, tại nhà của Nguyễn Duy Tsố A đường B, phường H, thành phố L, ông được lực lượng Công an mời chứng kiến việc khám xét chỗ ở của Nguyễn Duy T thu giữ trên mặt bàn phía sau gian bếp 01 mảnh giấy bạc bám dính chất màu đen và 01 túi nilon màu trắng chứa chất bột màu hồng nghi là ma túy; thu giữ trong phòng ngủ của Nguyễn Duy T 01 bình thủy tinh gắn vòi hút nhựa.

Tại Cáo trạng số 69/CT-VKS ngày 15/5/2024, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn truy tố Nguyễn Duy T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Duy T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Duy T như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 47, Điều 50 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T từ 14 tháng đến 16 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 30/01/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật là chất ma túy còn lại sau giám định và 01 bình thủy tinh gắn vòi hút nhựa; trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen, số IMEI 354756103045810/01 lắp kèm sim số 0386.630.678 và số 0343.283.316. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo trình bày: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình, xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa vắng mặt người chứng kiến, nhưng người chứng kiến đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của người chứng kiến không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người chứng kiến theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng, việc thu thập tài liệu, chứng cứ của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện, các tài liệu chứng cứ đã thu thập đều hợp pháp.

[3] Xét lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Duy T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản khám xét, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ căn cứ xác định hồi 16 giờ 40 phút ngày 30/01/2024, tại nơi ở của Nguyễn Duy T địa chỉ số A đường B, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, Nguyễn Duy T có hành vi tàng trữ trái phép 0,154 gam ma túy Methamphetamine mục đích để sử dụng.

[4] Căn cứ vào Kết luận giám định số 278/KL-KTHS ngày 01/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh L, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Nguyễn Duy T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[5] Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và biết rõ tác hại của ma túy ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người và là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, gây mất trật tự an toàn xã hội nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo vẫn tàng trữ trái phép chất ma túy.

[6] Để có căn cứ quyết định hình phạt, ngoài việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cần xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[7] Về nhân thân: Bị cáo là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy nên xác định bị cáo có nhân thân chưa tốt.

[8] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[9] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi bị lực lượng Công an đưa về trụ sở làm việc, trước khi số ma túy bị cáo cất giấu ở nhà bị phát hiện, bị cáo đã tự khai ra việc bị cáo đang cất giấu ở nhà số ma túy chưa sử dụng hết, Cơ quan điều tra khám xét chỗ ở của bị cáo thu được 0,154 gam ma túy Methamphetamine bị cáo cất giấu, là toàn bộ tang vật của vụ án; tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hồ sơ vụ án thể hiện chị Hà Thị Q là vợ của bị cáo nộp tài liệu về việc ông Đỗ Cao Đ được tặng huy chương và huân chương. Tại phiên toà bị cáo và mẹ bị cáo là bà Đỗ Thúy L đều trình bày ông Đỗ Cao Đ là ông ngoại của bị cáo nhưng ngoài lời trình bày bị cáo và bà Đỗ Thúy L đều không cung cấp được tài liệu chứng minh nên không có căn cứ xem xét.

[10] Từ những phân tích và đánh giá nêu trên, xét thấy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[11] Về hình phạt bổ sung: Theo kết quả xác minh ngày 08/4/2024 thể hiện bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng, sống phụ thuộc vào gia đình nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[12] Về vật chứng: 01 phong bì niêm phong đựng chất ma túy còn lại sau giám định là chất Nhà nước cấm lưu hành; 01 bình thủy tinh gắn vòi hút nhựa là vật bị cáo dùng để sử dụng ma túy, không còn giá trị, cần tịch thu, tiêu hủy. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen, số IMEI 354756103045810/01 lắp kèm sim số 0386.630.678 và số 0343.283.316 không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo.

[13] Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo ngày 28/01/2024 tại khu vực phía sau Bưu điện tỉnh Lạng Sơn, Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không xác định được ai có đặc điểm như bị cáo mô tả, nên chưa xác minh làm rõ được để xử lý. Kiến nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý.

[14] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố L, tỉnh Lạng Sơn cơ bản là có căn cứ. Riêng về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy, tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện: Khi bị lực lượng Công an đưa về trụ sở làm việc hồi 16 giờ 10 phút ngày 30/01/2024 (trước khi số ma túy bị cáo cất giấu ở nhà bị phát hiện), bị cáo đã khai ra việc bị cáo đang cất giấu số ma túy chưa sử dụng hết ở nhà; hồi 16 giờ 40 phút ngày 30/01/2024, Cơ quan điều tra khám xét chỗ ở của bị cáo thu được 0,154 gam ma túy Methamphetamine là toàn bộ tang vật của vụ án. Như vậy, bị cáo đã tự mình nhận tội và khai ra hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy của mình, trong khi chưa ai phát hiện được bị cáo phạm tội nên có căn cứ áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự "người phạm tội tự thú" quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt dưới mức đề nghị của Viện kiểm sát.

[15] Về án phí: Bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

[16] Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47, Điều 50 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 296, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 30/01/2024.
  3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong đựng mẫu vật là chất ma túy còn lại sau giám định, 01 (một) bình thủy tinh gắn vòi hút nhựa. Trả lại bị cáo 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen, số IMEI 354756103045810/01 lắp kèm sim số 0386.630.678 và số 0343.283.316.

    (Các vật chứng nêu trên được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/5/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố L, tỉnh Lạng Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn).

  4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Duy T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Duy T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng sơn;
  • - VKSND tỉnh Lạng Sơn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND TP. Lạng Sơn, T. Lạng Sơn;
  • - Công an TP. Lạng Sơn, T. lạng Sơn;
  • - CCTHADS TP. Lạng Sơn, T. Lạng Sơn;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hứa Thị Thanh Xuyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2024/HS-ST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 75/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Duy T phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger