Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH XUYÊN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 75/2024/HS-ST

Ngày 12 tháng 6 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Nữ Hương Huyền.

Các Hội thẩm Nhân dân: Ông Dương Văn Điệp và bà Lê Thị Bích Thuần.

Thư ký phiên toà: Ông Phạm Quang Đại- Thư ký Toà án Nhân dân huyện Bình Xuyên.

Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân huyện Bình Xuyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích- Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 61/2024/HS-ST ngày 27 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2024/QĐXXST- HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Cao C, sinh ngày 05/10/1990; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khu H, xã V, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Cao Lan; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đức H và bà Phạm Thị L; vợ: Nguyễn Hải T, con: có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/01/2024 đến ngày 08/02/2024 được tại ngoại (có mặt).

Bị hại: Chị Nguyễn Thị Đ- sinh năm 1981 (đã chết).

Người đại diện theo ủy quyền của gia đình người bị hại: Anh Lê Văn T1- sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện M, Thành phố Hà Nội (vắng mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Văn D, sinh năm 1984; địa chỉ: Khu I xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).

Chị Nguyễn Hải T, sinh năm 1993; địa chỉ: Khu H, xã V, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trần Cao C có giấy phép lái xe ô tô hạng C do Sở Giao thông vận tải tỉnh P cấp ngày 02/02/2023 có giá trị đến ngày 02/02/2028. C là lái xe thuê cho anh Phạm Văn D.

Khoảng 08 giờ ngày 30/01/2024, sau khi đi trả hàng tại Thành phố Hà Nội, C điều khiển xe tải nhãn hiệu CNHTC trọng tải 1.600kg, biển kiểm soát 19H- 032.91 đi về huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Khi đi đến Km21 + 700 đường quốc lộ 2 thuộc địa phận tổ dân phố T, thị trấn H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (gần cổng khu công nghiệp B) thì gặp đèn tín hiệu giao thông màu đỏ nên C dừng lại ở làn giữa đường chờ đèn đỏ. Khi đèn tín hiệu chuyển sang màu xanh thì C bật đèn xi nhan phải để chuyển hướng rẽ phải đi vào đường tỉnh lộ 310B. Khi chuyển hướng C không chú ý quan sát nên không phát hiện thấy chị Nguyễn Thị Đ đang điều khiển xe đạp đi thẳng cùng chiều ở bên phải xe ô tô do C điều khiển nên phần đầu bên trái xe ô tô của C đã đâm vào xe đạp của chị Đ làm chị Đ và xe đạp đổ ngã ra đường và bị bánh xe phía sau bên trái xe ô tô của C chèn vào người làm chị Đ tử vong tại chỗ, xe đạp bị hư hỏng nặng. Ngay sau đó C đến Công an huyện B đầu thú về hành vi của mình.

Tại thời điểm xảy ra vụ tai nạn, kiểm tra không có chất cồn và chất ma túy trong cơ thể của C và của chị Đ.

Khám nghiệm hiện trường xác định:

Hiện trường xảy ra tại km 21+ 700 đường Q thuộc tổ dân phố T, thị trấn H, huyện B. Vị trí xảy ra tai nạn là ngã tư giao cắt giữa đường Q với đường tỉnh lộ 310B. Tai nạn xảy ra tại chiều đường hướng Quốc lộ B rẽ phải đi đường tỉnh lộ 310B. Đường quốc lộ 2 có 02 chiều đường riêng biệt được ngăn cách bởi dải phân cách cứng ở giữa. Tại thời điểm khám nghiệm hệ thống đèn tín hiệu giao thông tại ngã tư giao cắt hoạt động bình thường, lòng đường trải nhựa bằng phẳng rộng 11,5m, lối mở từ Quốc lộ B rẽ vào đường tỉnh lộ 310B rộng 72,5m. Quá trình khám nghiệm lấy cột đèn tín hiệu ở đầu dải phân cách, đầu đường Quốc lộ 2 làm mốc cố định, lấy mép đường bên phải hướng Quốc lộ B đi vào khu công nghiệp B làm mép chuẩn, lấy hướng đi Quốc lộ B đi đưởng tỉnh lộ 310B làm hướng khám nghiệm.

Các dấu vết để lại hiện trường:

Ký hiệu số (1) trên sơ đồ hiện trường là vết chà sát trên mặt đường, (1) có kích thước (1,8 x 0,4)m, đầu (1) cách mép chuẩn là 9,8m, cuối (1) cách mép chuẩn là (10,1)m; đầu (1) đến trục sau xe đạp (2) là 1,4m; đầu (1) đến đầu lối mở của đường Quốc lộ 2 rẽ vào đường 310B là 23,5m.

Ký hiệu số (2) trên sơ đồ hiện trường là xe đạp nữ màu sơn đen không rõ nhãn hiệu nằm đổ nghiêng bên phải đầu xe hướng vào khu công nghiệp B, đuôi xe hướng ra đường Quốc lộ 2. Trục trước (2) đến mép chuẩn là 10,2m; trục sau (2) đến mép chuẩn là 10m, trục trước (2) đến chân trái tử thi (3) là 0,25m.

Ký hiệu (3) trên sơ đồ hiện trường là tử thi Nguyễn Thị Đ ở trạng thái nằm sấp, đầu hướng vào hướng khu công nghiệp B, chân hướng ra quốc lộ B, đầu tử thi đến mép chuẩn là 9,6m; đầu tử thi đến trục sau cùng bên trái xe ô tô (4) là 6,5m. Chân trái tử thi đến mép chuẩn là 9,3m.

Ký hiệu (4) trên sơ đồ hiện trường là xe ô tô tải biển kiểm soát 19H- 032.91 dừng đỗ giữa đường tỉnh lộ 310. Đầu xe hướng khu công nghiệp B, đuôi xe hướng quốc lộ B. Trục trước bên phải đến mép chuẩn là 5,25m, trục thứ 3 bên phải đến mép chuẩn là 6,1m; trục thứ 4 bên phải đến mép chuẩn là 6,4m.

2

Kết quả khám nghiệm phương tiện:

Xe ô tô biển kiểm soát 19H- 032.91 nhãn hiệu CNHTC màu sơn xanh để lại các dấu vết:

  • -Mặt trước ba đờ sốc dưới có dấu vết trượt kích thước (10x 02)cm, chiều hướng từ trước về sau, điểm thấp nhất cách mặt đất 60cm; cách thành ngoài ba đờ sốc phía trước bên trái là 50cm; đối diện vết trượt về phái trên ba đờ sốc có vết chà sát, bong tróc sơn kích thước (40 x 3)cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 84cm chiều hướng từ trước về sau, từ phải sang trái.
  • -Mặt trước của chắn bùn trước tại bánh trước bên trái (bên lái) có nhiều vết trượt xước cao su trên diện (48 x43)cm hướng từ trước về sau. Mặt ngoài má lốp bên trái (bánh đầu tiên và một phần mặt lăn) có vết trượt xước cao su trên diện (70x 20)cm chiều hướng theo trục quay của bánh xe.
  • -Mặt ngoài má lốp bánh thứ 2 từ trước về sau bên trái và một phần của mặt lăn có vết trượt xước cao su kích thước (60 x 16)cm chiều hướng theo chiều quay của bánh xe.

Xe đạp nữ màu đen để lại các dấu vết:

Xe đạp bị cong vênh biến dạng nhiều điểm, yên xe bị bung khỏi xe.

Bánh sau xe đạp, gác ba ga phía sau, đầu yên xe bị cong vênh, biến dạng, gãy vỡ chiều hướng từ sau về trước, từ trái sang phải, phần khung đầu trục sau (hai khung) bị cong vênh cách nhau 02cm.

Toàn bộ trục sau bị cong vênh về phía trước. Phần khung đầu trục sau bên phải mặt ngoài vành xe, mặt ngoài thanh kim loại của yên xe bên phải có nhiều vết chà sát, bám dính bụi đất chiều hướng từ trước về sau, từ dưới lên trên trên diện (80 x 60)cm; nan hoa bị cong vênh, bị đứt một phần ở líp sau.

Mặt ngoài đầu bàn đạp phía bên phải đầu trục gắn bàn đạp phía bên phải có dấu vết chà sát, bám dính bụi đất chiều hướng từ dưới lên trên, cần bàn đạp bị cong vênh hướng vào trong.

Toàn bộ khung bánh trước, hai tay nắm, giỏ để hàng, trục trước, vành nan hoa bị cong vênh, gãy vỡ nhiều điểm, bị biến dạng nhiều chi tiết; phần khung xe phía trước bên trái, giỏ để hàng bên trái, đầu trục trước bên trái, mặt ngoài, vành má lốp bên trái, mặt ngoài đầu tay nắm bên trái, mặt ngoài đầu cần phanh bên trái có nhiều vết chà sát kim loại, cao su, có bám dính bụi đất.

Đầu tay nắm bên phải bị gãy vỡ rời khỏi thân xe, cần phanh bên phải bị tụt khỏi vị trí ban đầu, có dấu vết chà sát kim loại, nhựa.

Kết quả khám nghiệm tử thi:

Tại kết luận giám định số 329/KLGĐTT- PC09- PY ngày 01/02/2024 của phòng K- Công an tỉnh V đối với Nguyễn Thị Đ kết luận:

“1. Các kết quả chính:

Trên tử thi nhiều diện bầm tím, dập nát da, cơ, xương phức tạp, tập trung chủ yếu vùng đầu mặt, vùng chậu, chân, tay.

3

Biến dạng vùng đầu mặt, xương hộp sọ dập vỡ phức tạp, tổ chức não dập nát thoát ra bên ngoài.

Gãy xương hàm trên- dưới; gãy nhiều răng, chảy máu qua tai, mũi, miệng.

Xương cổ, thành ngực trái sờ nắn mất vững.

Gãy xương cẳng chân trái, xương đùi chân trái.

2. Kết luận:

Nguyên nhân chết của Nguyễn Thị Đ: Đa chấn thương.”

Tại Cáo trạng số 73/CT- VKSBX ngày 25/5/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên truy tố bị cáo Trần Cao C tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Cao C khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Trần Cao C từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng.

Áp dụng khoản 2 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 03 mẫu trả cùng toàn bộ bao gói hoàn lại sau giám định; Trả lại Trần Cao C 01 giấy phép lái xe mô tô hạng C.

Xác nhận Trần Cao C đã bồi thường cho gia đình chị Nguyễn Thị Đ số tiền 351.000.000₫

Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội nêu trên của bị cáo Trần Cao C tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu

4

giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 08 giờ 40 ngày 30/01/2024, tại ngã tư giao cắt giữa đường Q và đường tỉnh lộ 310B thuộc tổ dân phố T, thị trấn H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, Trần Cao C có giấy phép lái xe ô tô hạng C theo quy định điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 19H- 032.19 không tuân thủ các quy định về đảm bảo an toàn giao thông đường bộ khi chuyển hướng nên đã đâm vào chị Nguyễn Thị Đ đang điều khiển xe đạp đi cùng chiều bên phải xe ô tô do C điều khiển khiến chị Đ và xe đạp bị đổ ngã ra đường và bị bánh xe ô tô biển kiểm soát 19H- 032 chèn vào người. Hậu quả chị Nguyễn Thị Đ tử vong tại chỗ, xe đạp bị hư hỏng nặng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Cao C đã vi phạm khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ “..... 2. Trong khi chuyển hướng, người lái xe.....phải nhường quyền đi trước cho người đi bộ, người đi xe đạp đang đi trên phần đường dành riêng cho họ.....chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác.”

Hành vi nêu trên của Trần Cao C đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Nội dung điều luật quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a. Làm chết người; ...” .

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự an toàn của hoạt động giao thông vận tải đường bộ, cũng như sự an toàn về tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Do đó, cần phải xử lý nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Xét về nguyên nhân xảy ra tai nạn giao thông do lỗi chủ quan của bị cáo khi chuyển hướng không quan sát nên đã đâm vào chị Đ làm chị Đ tử vong.

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo phạm tội theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự có mức cao nhất của khung hình phạt đến 05 năm tù nên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 9 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì trường hợp nêu trên thuộc tội phạm nghiêm trọng.

Trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân tốt vì chưa có tiền án, tiền sự. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ như sau: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã bồi thường thiệt hại” bị cáo ra đầu thú nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm theo quy

5

định tại các điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét thấy mặc dù là lỗi vô ý nhưng hậu quả do tội phạm gây ra là nghiêm trọng và không thể khắc phục được. Tuy nhiên bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng. Do đó, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương cũng có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội. Đây là cơ hội để bị cáo yên tâm cải tạo và sửa chữa lỗi lầm, phấn đấu để hoàn lương.

[4] Về vật chứng: Đối với xe ô tô biển kiểm soát 19H- 032.19 và toàn bộ giấy tờ xe là tài sản của anh Phạm Văn D. Ngày 08/3/2024, cơ quan điều tra đã trả lại cho anh D, anh D đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Đối với chiếc xe đạp màu đen đã cũ của chị Nguyễn Thị Đ, ngày 08/3/2024 Công an huyện B đã trả lại cho anh Lê Văn T1 (là người đại diện gia đình bị hại chị Nguyễn Thị Đ).

Đối với giấy phép lái xe mô tô hạng C mang tên Trần Cao C (kèm theo hồ sơ vụ án) là giấy tờ tùy thân nên cần trả lại cho bị cáo.

Đối với toàn bộ mẫu vật cơ quan điều tra giám định hoàn lại gồm: 02 mẫu máu của chị Nguyễn Thị Đ; 01 mẫu máu và 01 mẫu nước tiểu của Trần Cao C cùng toàn bộ bao gói cần tịch thu tiêu hủy.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Gia đình Trần Cao C đã bồi thường cho gia đình chị Nguyễn Thị Đ (do người đại diện gia đình bị hại là anh Lê Văn T1) tổng số tiền là 351.000.000đ. Anh T1 không yêu cầu gì thêm, đồng thời xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết đối với phần trách nhiệm dân sự.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Cao C phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Cao C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Trần Cao C 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trần Cao C cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

6

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của Bản án cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự.

  1. Căn cứ khoản 2 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiêu hủy 04 mẫu trả cùng toàn bộ bao gói hoàn trả sau giám định (Có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/6/2024).

Trả lại cho Trần Cao C 01 giấy phép lái xe mô tô hạng C mang tên Trần Cao C (kèm theo hồ sơ vụ án).

  1. Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Cao C phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đại diện hợp pháp của người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND huyện Bình Xuyên;
  • - Công an huyện Bình Xuyên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ;
  • - Chi cục thi hành án huyện Bình Xuyên;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - UBND xã Vân Đồn, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Nữ Hương Huyền

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2024/HS-ST ngày 12/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 75/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger