|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 75/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 11/9/2024
V/v: Ly hôn, tranh chấp
nuôi con khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Hào
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Nguyễn Đình Vụ
- 2. Bà Nguyễn Thị Thanh Thuỷ
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Kim Chi - Kiểm sát viên
Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số: 354/2024/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 246/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2024; Thông báo thay thế người tiến hành tố tụng số 41/2024/TB-TA ngày 06/9/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Lê Huy H, sinh năm 1994
Địa chỉ: 0 Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Bị đơn: Chị Lê Thị T, sinh năm 1994
Nơi thường trú: 0 Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi ở hiện nay: A T, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên tòa có mặt anh H, chị T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, ý kiến tại phiên toà anh Lê Huy H trình bày:
- Về hôn nhân: Anh và chị Lê Thị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tổ chức cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa vào năm 2016. Quá trình vợ chồng chung sống, thời gian đầu chung sống với nhau hòa thuận hạnh phúc, đến đầu năm 2023 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách lối sống khác nhau nên thường xuyên xảy ra cãi vã, mâu thuẫn đã được 2 bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Kể từ cuối năm 2023 đến nay vợ chồng đã sống ly thân nhau không còn quan tâm trách nhiệm với nhau. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh ly hôn với chị Lê Thị T.
- Về nuôi con: Anh và chị Lê Thị T có 02 con chung cháu Lê Đức H1, sinh ngày 15/8/2016 và Lê Nhã Thanh T1, sinh ngày 14/12/2019. Ly hôn, anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu Lê Đức H1, giao cháu Lê Nhã Thanh T1 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng và không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và công nợ: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 20/8/2024, ý kiến tại phiên hoà giải chị Lê Thị T trình bày:
- Về hôn nhân: Chị và anh Lê Huy H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại tại UBND phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa vào năm 2016. Quá trình vợ chồng chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng rạn nứt, không có hạnh phúc và đã sống ly thân nhau từ năm 2023 cho đến nay. Nay chị cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được anh H đề nghị giải quyết ly hôn, chị cũng đồng ý.
- Về con chung: Chị và anh H có 02 con chung cháu Lê Đức H1, sinh ngày 15/8/2016 và Lê Nhã Thanh T1, sinh ngày 14/12/2019. Ly hôn, chị cũng đồng ý giao cháu Lê Đức H1 cho anh H trực tiếp nuôi, giao cháu Lê Nhã Thanh T1 cho chị (T) trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và công nợ: chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi có ý kiến tại bản tự khai Toà án đã tiến hành hoà giải, anh H, chị T đều xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên thống nhất thuận tình ly hôn, thống nhất việc giao cháu Lê Đức H1 cho anh H trực tiếp nuôi, giao cháu Lê Nhã Thanh T1 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Do đó Toà án đã lập biên bản ghi nhận sự thuận tình ly hôn và hoà giải thành của các bên đương sự. Tuy nhiên ngày 22/8/2024 chị T đã thay đổi nội dung thoả thuận và đề nghị Toà án giao hai con cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chị không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung và đề nghị Toà án đưa vụ án ra giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Cung cấp của chính quyền địa phương: Anh Nguyễn Huy H2, chị Lê Thị T có hộ khẩu thường trú tại SN C Đ, phường B, thành phố T do phố quản lý. Quá trình chung sống với nhau tại địa phương vợ chồng có mâu thuẫn như thế nào khu phố không biết. Nay anh H2 làm đơn xin ly hôn, quan điểm của khu phố đề nghị Toà án hoà giải để vợ chồng đoàn tụ, nếu anh H2 cương quyết xin ly hôn đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung anh, chị có 02 con chung cháu Lê Đức H1, sinh ngày 15/8/2016 và Lê Nhã Thanh T1, sinh ngày 14/12/2019. Ly hôn đề nghị Toà án xem xét việc giao người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa anh H2 vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, chị T đồng ý ly hôn nhưng đề nghị Toà án giao hai con cho anh H2 trực tiếp nuôi dưỡng, chị không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung vì chị không có việc làm, không có thu nhập.
Đại diện VKS phát biểu ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án thẩm phán, hội đồng xét xử, thư ký, nguyên đơn, bị đơn đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về yêu cầu khởi kiện, đề nghị HĐXX căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Lê Huy H. Về con chung đại diện VKS đề nghị Toà án giao anh H, chị T mỗi người trực tiếp nuôi dưỡng một cháu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Lê Huy H khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, là quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Lê Thị T cư trú tại thành phố T, nên Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về hôn nhân: Anh Lê Huy H, chị Lê Thị T kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của anh H thấy rằng: Hôn nhân muốn tồn tại trước hết vợ chồng phải thương yêu, tin tưởng nhau và có trách nhiệm với nhau cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình. Qua xem xét lời khai của anh H, chị T cho thấy, sau khi kết hôn anh, chị đã có thời gian đầu chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian đó chỉ tồn tại được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hoà hợp, quan điểm cách sống luôn trái ngược nhau, từ đó mâu thuẫn triền miên xảy ra và ngày càng trầm trọng và kể từ năm 2023 đến nay vợ chồng đã sống ly thân nhau không ai quan tâm đến ai. Mặt khác Toà án đã tiến hành hoà giải để vợ chồng quay về đoàn tụ, nhưng anh H, chị T đều xác định tình cảm vợ chồng không còn nên thống nhất thuận tình ly hôn.
Như vậy có đủ cơ sở khẳng định tình trạng mâu thuẫn giữa anh Lê Huy H, chị Lê Thị T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của anh Hoàng x cho anh được ly hôn chị Lê Thị T.
[3] Về con chung: Anh Lê Huy H, chị Lê Thị T có 02 con chung, có 02 con chung là Lê Đức H1, sinh ngày 15/8/2016 và Lê Nhã Thanh T1, sinh ngày 14/12/2019. Tại bản tự khai, ý kiến tại biên bản hoà giải, ý kiến tại biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, các bên thoả thuận giao cháu Lê Đức H1 cho anh H trực tiếp nuôi, giao cháu Lê Nhã Thanh T1 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Sự thoả thuận này của các bên là hoàn toàn tự nguyện, tuy nhiên do điều kiện kinh tế khó khăn nên chị T thay đổi nội dung thoả thuận và đề nghị Toà án giao hai con cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chị không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét đề nghị của chị T thấy rằng quyền, nghĩa vụ đối với con chưa thành niên là của cả cha lẫn mẹ, bản thân anh, chị đều là lao động tự do thu nhập không ổn định, đều có nơi ở, nên nếu giao hai con cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng sẽ không đảm bảo việc chăm sóc nuôi dưỡng các cháu. Do đó căn cứ Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình giao cháu T1 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu H1 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng và không bên nào phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung là phù hợp.
[4] Về tài sản: Anh H, chị T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Anh Lê Huy H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27, khoản 1. 1 Điều 1 phần I, mục A Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án
Về hôn nhân: Xử cho anh Lê Huy H được ly hôn chị Lê Thị T.
Về con chung: Công nhận cháu cháu Lê Đức H1, sinh ngày 15/8/2016 và Lê Nhã Thanh T1, sinh ngày 14/12/2019 là con chung của anh Lê Huy H, chị Lê Thị T. Giao cháu T1 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu H1 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng và không bên nào phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Anh H, chị T có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về tài sản, công nợ: Tòa án không xem xét giải quyết.
Án phí: Anh Lê Huy H phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ anh đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001591 ngày 07/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa (anh H đã nộp đủ tiền án phí).
Anh Lê Huy H, chị Lê Thị T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Văn Hào |
Bản án số 75/2024/HNGĐ-ST ngày 11/09/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 75/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án Hôn nhân gia đình
