|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 75/2024/HNGĐ-ST
Ngày 10-6-2024
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Từ Anh Tuấn;
Bà Nguyễn Thị Thu Vân.
Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Bương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thuý An - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 89/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 56/2024/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đỗ Duy Khánh V, sinh năm 1990; địa chỉ: Số B đường số F, khu phố D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Hồng H, sinh năm 1989; địa chỉ: Số A, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh B, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 22/02/2024 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Đỗ Duy Khánh V trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Duy Khánh V và anh Nguyễn Hồng H đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân phường A, thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh B theo Giấy chứng nhận kết hôn số 41/2014, quyển số 08/2013 ngày 18/6/2014. Quá trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống và trong cách nuôi dạy con dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã, anh H không có trách nhiệm, không quan tâm đến con cái. Cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, chị V đã nhiều lần tạo điều kiện, ngồi lại nói chuyện với anh H nhưng cả hai vẫn không thể hoà hợp. Hiện chị V và anh H không còn sống chung với nhau, chị V xác định không còn tình cảm với anh H nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh H.
- Về con chung: Quá trình chung sống, chị Đỗ Duy Khánh V và anh Nguyễn Hồng H có 02 người con chung tên là Nguyễn Thiên D, sinh ngày 15/4/2013 và Nguyễn Thiên Đ, sinh ngày 18/12/2014. Chị Đỗ Duy Khánh V yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 cháu Nguyễn Thiên D và Nguyễn Thiên Đ và không yêu cầu anh Nguyễn Hồng H thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi dưỡng các con chung.
- Về tài sản chung: Chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nghĩa vụ chung và nợ chung: Chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Nguyễn Hồng H: Quá trình tố tụng, bị đơn anh Nguyễn Hồng H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và đã triệu tập hợp lệ bị đơn anh Nguyễn Hồng H để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 25/4/2024; tham gia phiên tòa vào các ngày 24/5/2024 và 10/6/2024 nhưng anh Nguyễn Hồng H vắng mặt không lý do. Đồng thời, anh H cũng không có ý kiến và không có yêu cầu gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị V.
Ngày 01/4/2024 Tòa án xác minh tình trạng hôn nhân, quá trình chung sống và vấn đề chăm sóc nuôi dạy con chung giữa chị Đỗ Duy Khánh V và anh Nguyễn Hồng H tại Hội Liên hiệp phụ nữ phường A và được cung cấp như sau: Trước khi khởi kiện ly hôn tại Tòa án, chị V và anh H không có yêu cầu địa phương tổ chức hòa giải cơ sở. Quá trình chung sống thì vấn đề mâu thuẫn, nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn và vấn đề chăm sóc nuôi dạy con chung thì Hội Liên hiệp phụ nữ phường An Bình không rõ vì không có thông tin cung cấp từ đại diện khu phố cũng như người dân phản ánh. Đề nghị Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết vụ án theo quy định.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An:
Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Nguyên đơn và người làm chứng có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn vắng mặt không lý do, căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định.
Về nội dung vụ án: Xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Nguyên đơn Đỗ Duy Khánh V vắng mặt và có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt; bị đơn anh Nguyễn Hồng H đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt hai lần liên tiếp không lý do. Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Duy Khánh V và anh Nguyễn Hồng H đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, thị xã D (thành phố D), thành phố D, tỉnh B theo Giấy chứng nhận kết hôn số 41/2014, quyển số 08/2013 ngày 18/6/2014 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Chị V xác định sau một thời gian thì cuộc sống xảy ra nhiều mâu thuẫn gia đình nghiêm trọng dẫn tới rạn nứt không thể hàn gắn được. Nguyên nhân là anh H không có trách nhiệm, không quan tâm đến con cái. Cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, vợ chồng hiện không còn sống chung. Chị Đỗ Duy Khánh V đã nhiều lần tạo điều kiện, ngồi lại nói chuyện với anh H nhưng cả hai vẫn không thể hoà hợp. Nay chị V xác định không còn tình cảm với anh H nên yêu cầu được ly hôn.
Xét thấy mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc; để đạt được mục đích đó vợ chồng cần phải thương yêu, tin tưởng, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Việc chị V xác định quan hệ hôn nhân của vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, chị V đã cho anh H nhiều cơ hội nhưng anh H vẫn không thay đổi, không thể hàn gắn tình cảm và hiện cả hai đều không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Bản thân anh H, sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã triệu tập anh H đến tham gia phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh H không có mặt và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Điều này chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cả hai bên đều không muốn hàn gắn tình cảm. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của chị V là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên có căn cứ chấp nhận.
[3] Về con chung: Quá trình chung sống, chị Đỗ Duy Khánh V và anh Nguyễn Hồng H có 02 người con chung tên là Nguyễn Thiên D, sinh ngày 15/4/2013 và Nguyễn Thiên Đ, sinh ngày 18/12/2014. Việc giao con chung cho ai nuôi dưỡng cần phải xem xét về mọi mặt và quyền lợi của con chưa thành niên. Xét, hiện tại chị H làm công việc tự do, có thu nhập tương đối ổn định, cháu Nguyễn Thiên D và Nguyễn Thiên Đ đang do chị Đỗ Duy K Vy trực tiếp nuôi dưỡng, cả cháu D và cháu Đ là cháu gái và đang ở tuổi vị thành niên. Tại bản tự khai trình bày ý kiến gửi Tòa án, cháu D và cháu Đ xác định có nguyện vọng được ở chị V, điều này chứng tỏ việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung của chị V hiện vẫn đảm bảo được cuộc sống và sự phát triển của hai cháu. Quá trình tố tụng tại Tòa án, anh Nguyễn Hồng H vắng mặt và cũng không có văn bản nào thể hiện ý kiến về việc nuôi con chung. Căn cứ theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình cần giao con chung Nguyễn Thiên D và Nguyễn Thiên Đ cho chị Đỗ Duy K Vy trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị Đỗ Duy Khánh V về việc được trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu Nguyễn Thiên D và Nguyễn Thiên Đ.
Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Đỗ Duy Khánh V tự nguyện không yêu cầu anh Nguyễn Hồng H cấp dưỡng nuôi dưỡng nuôi con chung nên Tòa án ghi nhận.
[4] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
[5] Từ những phân tích trên có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An về việc giải quyết vụ án.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đỗ Duy Khánh V phải chịu án phí ly hôn theo quy định của của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và các Điều 227, 228, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đỗ Duy Khánh V về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với bị đơn anh Nguyễn Hồng H.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Duy Khánh V được ly hôn với anh Nguyễn Hồng H (Giấy chứng nhận kết hôn số 41/2014, quyển số 08/2013 do Ủy ban nhân dân phường A, thị xã D (thành phố D), thành phố D, tỉnh B cấp ngày 18/6/2014).
- Về con chung: Chị Đỗ Duy Khánh V được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung tên Nguyễn Thiên D, sinh ngày 15/4/2013 và Nguyễn Thiên Đ, sinh ngày 18/12/2014. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Đỗ Duy Khánh V không yêu cầu anh Nguyễn Hồng H cấp dưỡng nuôi con chung đối với cháu Thiên D và cháu Thiên Đ.
Sau ly hôn, chị Đỗ Duy Khánh V và anh Nguyễn Hồng H đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đỗ Duy Khánh V phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004489 ngày 05/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ngọc Mai |
Bản án số 75/2024/HNGĐ-ST ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 75/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
