|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 75/2024/HSST Ngày: 10/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Lan Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Hải (giáo viên nghỉ hưu);
2. Bà Nguyễn Thị Lan;
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Việt - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 06 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 63/2024/TLST-HS ngày 23/4/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2024; Thông báo về việc thay đổi lịch xét xử ngày 16/5/2024 và Thông báo về việc thay đổi lịch xét xử ngày 05/6/2024 đối với các bị cáo:
1. Trần Quang Đ - Sinh ngày 05/5/2004 tại Hà Nội; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; HKTT và chỗ ở: Tổ dân phố K, phường D, quận H, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Sinh viên; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Trần Quang Đ1 và bà Nguyễn Thị K; Vợ con: chưa; Tiền án, tiền sự: Không; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).
2. Nguyễn Đăng Khánh Đ2 – Sinh ngày 01/4/2006 tại Hà Nội; (đến thời điểm phạm tội là 16 tuổi 10 tháng 17 ngày); Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; HKTT và chỗ ở: Thôn Đ, xã Đ, huyện H, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; Con ông Nguyễn Đăng V và bà Nguyễn Thị T; Vợ con: chưa; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/4/2024 đến ngày 16/4/2024; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).
3. Lê Văn K1 - Sinh ngày 27/2/2004 tại Hà Nội; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; HKTT và chỗ ở: Tổ dân phố C, phường Đ, quận N, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Lê Văn L và bà Nguyễn Thị T1; Vợ con: chưa; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 413/2023/HSPT ngày 19/5/2023 TAND thành phố Hà Nội xử phạt 21 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 42 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Gây rối trật tự công cộng” (thực hiện hành vi phạm tội ngày 01/7/2021); Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/9/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H. (Có mặt)
4. Nguyễn Văn Hoàng D - Sinh ngày 13/9/2003 tại Hà Nội; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; HKTT và chỗ ở: Tổ dân phố số A N, phường Đ, quận N, TP .; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn Văn L1 và bà Bùi Thị N; Vợ con: chưa; Tiền án, tiền sự: Không; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).
5. Đào Văn T2 - Sinh ngày 28/3/2003 tại Hà Nội; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; HKTT và chỗ ở: Tổ dân phố G, phường Đ, quận N, TP .; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Đào Văn L2 và bà Nguyễn Thị T3; Vợ con: chưa; Tiền án, tiền sự: Không; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).
6. Nguyễn Văn H - Sinh ngày 15/5/2006 tại Hà Nội (đến thời điểm phạm tội là 16 tuổi 09 tháng 03 ngày); Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; HKTT và chỗ ở: Thôn A, xã A, huyện H, TP . Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; Con ông Nguyễn Văn C và bà Hoàng Thị H1; Vợ con: chưa; Tiền án, tiền sự: Không; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).
Người đại diện của bị cáo Nguyễn Văn H, sinh ngày: 15/5/2006: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1980 và bà Hoàng Thị H1, sinh năm 1983 (là bố mẹ đẻ); Cùng trú tại: thôn A, xã A, huyện H, thành phố Hà Nội; (Đều có mặt).
7. Chu Công Hải Nam - Sinh ngày 18/8/2006 tại Hà Nội (đến thời điểm phạm tội là 16 tuổi 06 tháng); Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; HKTT và chỗ ở: Thôn N, xã A, huyện H, TP. Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; Con ông Chu Công H2 và bà Hoàng Thị T4; Vợ con: chưa; Tiền án, tiền sự: Không; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).
Người đại diện của bị cáo Chu Công Hải N1, sinh ngày: 18/8/2006: Ông Chu Công H2, sinh năm 1982 và bà Hoàng Thị T4, sinh năm 1983 (là bố mẹ đẻ); Cùng trú tại: thôn N, xã A, huyện H, thành phố Hà Nội. (Đều có mặt)
8. Nguyễn Bá H3 - Sinh ngày 19/12/2006 tại Hà Nội (đến thời điểm phạm tội là 16 tuổi 01 tháng 30 ngày); Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; HKTT và chỗ ở: Thôn A, xã A, huyện H, TP .; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn Bá H4 và bà Mầu Thị T5; Vợ con: chưa; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 15/4/2024 của TAND huyện Hoài Đức xử phạt 20 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” (thực hiện hành vi phạm tội ngày 19/6/2023); Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/11/2023 (trong vụ án “Cố ý gây thương tích”); Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. (Có mặt).
Người đại diện của bị cáo Nguyễn Bá H3, sinh ngày: 19/12/2006: Ông Nguyễn Bá H4, sinh năm 1973 và bà Mầu Thị T5, sinh năm 1975 (là bố mẹ đẻ); Cùng trú tại: thôn A, xã A, huyện H, thành phố Hà Nội. (Đều có mặt).
9. Nguyễn Đình K2 - Sinh ngày 01/12/2006 tại Hà Nội (đến thời điểm phạm tội là 16 tuổi 02 tháng 17 ngày); Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; HKTT và chỗ ở: Thôn A, xã A, huyện H, TP .; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; Con ông Nguyễn Đình B và bà Nguyễn Thị T6; Vợ con: chưa; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 15/4/2024 của TAND huyện Hoài Đức xử phạt 22 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” (thực hiện hành vi phạm tội ngày 19/6/2023); Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/11/2023 (trong vụ án “Cố ý gây thương tích”); Hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam số 1 – Công an thành phố H (Có mặt).
Người đại diện của bị cáo Nguyễn Đình K2, sinh ngày: 01/12/2006: Ông Nguyễn Đình B, sinh năm 1983 và bà Nguyễn Thị T6, sinh năm 1985 (là bố mẹ đẻ); Cùng trú tại: thôn A, xã A, huyện H, thành phố Hà Nội. (Đều có mặt)
10. Nguyễn Văn C1 - sinh ngày 11/9/2006 tại Hà Nội (đến thời điểm phạm tội là 16 tuổi 05 tháng 07 ngày); Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; HKTT và chỗ ở: Thôn A, xã A, huyện H, TP . Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Nguyễn Văn L3 và bà Nguyễn Thị H5; Vợ con: chưa; Tiền án, tiền sự: Không: Nhân thân: Bản án số 22/2024/HSST ngày 12/01/2024 của TAND quận Nam Từ Liêm xử phạt 19 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” (thực hiện hành vi phạm tội ngày 21/8/2023); Bị cáo đầu thú ngày 23/8/2023 (trong vụ án “Gây rối trật tự công cộng” của TAND quận Nam Từ Liêm). Bị cáo hiện đang chấp hành hình phạt tù tại Trại giam N4 – Bộ C3. (Có mặt)
Người đại diện của bị cáo Nguyễn Văn C1, sinh ngày: 11/9/2006: Ông Nguyễn Văn L3, sinh năm 1979 và bà Nguyễn Thị H5, sinh năm 1981 (là bố mẹ đẻ); Cùng trú tại: thôn A, xã A, huyện H, thành phố Hà Nội. (Ông L3 có mặt, bà H5 vắng mặt)
11. Nguyễn Duy T7 - sinh ngày 30/7/2006 tại Hà Nội (đến thời điểm phạm tội là 16 tuổi 06 tháng 19 ngày); Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; HKTT và chỗ ở: Thôn A, xã A, huyện H, TP . Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Nguyễn Duy N2 (đã chết) và bà Cấn Thị N3; Vợ con: chưa; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 15/4/2024 của TAND huyện Hoài Đức xử phạt 20 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” (thực hiện hành vi phạm tội ngày 19/6/2023); Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/11/2023; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H. (Có mặt).
Người đại diện của bị cáo Nguyễn Duy T7, sinh ngày: 30/7/2006: Bà Cấn Thị N3, sinh năm 1973 (là mẹ đẻ); Trú tại: thôn A, xã A, huyện H, thành phố Hà Nội. (Có mặt)
- Người bào chữa cho các bị cáo:
+ Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Văn H, Chu Công Hải N1, Nguyễn Bá H3, Nguyễn Đình K2: Bà Nguyễn Thị V1– Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước – Sở Tư pháp thành phố Hà Nội. (Có mặt)
+ Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Văn C1, Nguyễn Duy T7: Bà Chu Thị Phương T8 – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước- Sở Tư pháp thành phố Hà Nội. (Có mặt)
+ Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn Hoàng D: Ông Nguyễn Anh S, bà Nguyễn Thị P – Luật sư Văn phòng L4. (Ông S có mặt, bà P vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do Trần Quang Đ (SN: 2004, NCT: TDP K, phường D, quận H, TP .) nghi ngờ vào ngày 17/02/2023 Nguyễn Đăng Khánh Đ2 (SN: 2006, NCT: Thôn Đ, xã Đ, huyện H, TP Hà Nội) đã ném gạch vào quán trà chanh Mo Mo của nhà Đ ở đối diện cổng số D A, phường D, quận H, TP . dẫn đến mâu thuẫn giữa Quang Đ với Đ2 nên Trần Huy C2 (SN: 2005; NCT: TDP K, phường D, quận H, TP . Hà Nội) và Nguyễn Doãn T9 (SN: 2004; NCT: Thôn A, xã A, huyện H, TP . Hà Nội) là bạn bè với Đ2 và Quang Đ nên đã đứng ra hòa giải. Ngày 18/02/2023, tại quán nước trà đá gần cổng trường trung học phổ thông H6 gồm có T9, Đ2, Trần Huy C2, Trần Tiến Đ3 (SN: 2006; NCT: Thôn N, xã A, huyện H, TP .), Nguyễn Văn H, Chu Công Hải N1, lúc này T9 nói với cả nhóm sẽ đứng ra hòa giải việc mâu thuẫn giữa Đ3 và Đ2. Sau đó, T9 có hẹn Quang Đ đến Cổng trường H6 để gặp Đ2 rồi mọi người đi về. Khi H và N1 đến vị trí lấy xe để đi về thì Đ2 có nói với H và N1: “Có gì chiều nay gọi người đến để đánh nhóm H”. Đến khoảng giờ học tiết 04 cùng ngày, Đ2 đi đến lớp học của H và N1, lúc ra chơi, Đ2 gọi H và N1 đi ra cổng, khi đi, Đ2 tiếp tục nói với H và N1: “Lát bọn H đến thì đánh nhau” thì H và N1 đồng ý.
Đến khoảng 15 giờ ngày 18/02/2023, Quang Đ rủ thêm Nguyễn Văn Hoàng D (SN: 2003, NCT: TDP số 1 N, phường Đ, quận N, TP .), Đào Văn T2 (SN: 2003, NCT: TDP G, phường Đ, quận N, TP .) và Lê Văn K1 (SN: 2004, NCT: TDP C, phường Đ, quận N, TP .) đi gặp Đ2 để giải quyết mâu thuẫn. Đ nói với cả nhóm: “Nếu cần thiết thì đánh nhau”, thì mọi người đều đồng ý. Đ chuẩn bị một gậy 03 khúc màu đen dài khoảng 20cm và cất vào ống áo khoác bên tay phải đang mặc và nói với tất cả đã chuẩn bị đồ (ý là hung khí để đánh nhau). Sau đó, K1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đen, BKS: 29L1 – 901.68 chở Đ; T2 điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave chở D đến cổng trường trung học phổ thông H6. Tại đây, Đ nói với T2, D, K1: “Anh đang bực lắm, tý nếu cảm thấy đánh được thì đánh bọn nó”. Lúc này, Đ2 cùng H và N1 cũng vừa đi ra cổng trường, Đ2 hất cằm về phía nhóm Đ đang đứng với mục đích thông báo cho H và N1 biết mặt nhóm Đ để còn đánh, rồi Đ2 tiếp tục hất cằm về quán trà chanh “Bụi P1” với mục đích bảo H và N1 rủ thêm người đánh nhau thì H và N1 đi đến quán trà chanh “Bụi P1”. Tại đây, H và N1 gặp Nguyễn Bá H3, Nguyễn Duy T7, Nguyễn Quang D1, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Đình K2 đang ngồi uống nước thì H rủ tất cả đi đánh nhau với nhóm H thì tất cả đồng ý. K2 và T7 chặn ở ngõ I và tự chuẩn bị 01 tuýp sắt dài khoảng 1,2m và 01 con dao dài khoảng 40cm bằng kim loại. Sau đó, H, H3 và Hải N1 ra cổng sau trường THPT H6 B để chặn nhóm của Đ; C1 và D1 chặn ở khu vực quán B2. Lúc này, Quang Đ, K1, T2, D nhìn thấy Đ2, Đ tiến về cổng trưởng Hoài Đức B1 thì Đ2 bỏ chạy vào trong trường, Đ thấy đông người nên quay lại nói với K1, T2, D đi vòng để tìm nhóm của Đ2 thì tất cả đồng ý. K1 tiếp tục chở Đ, T2 chở D. Khi K1 chở Đ vào ngõ I thì chạm vào đầu xe của K2 đang đứng chặn nên K2 nói: “Mày ở đâu” rồi dùng tay tát 01 cái vào mặt, đấm 01 cái vào bụng Đ, Toán tùng tuýp sắt vụt vào lưng và gáy Đ, Đ nhảy xuống xe bỏ chạy, do bị rơi mất hung khí nên khi bỏ chạy Đ có nhặt được con dao có đặc điểm dài khoảng 40cm, được làm bằng kim loại ở gần khu nhà đang xây khi xe K1 đi qua. Đ cầm con dao chạy theo rồi lên xe K1 chở, lúc này, T2 và D đang đứng ở đầu ngõ I cách xe của K1 chở Đ khoảng 02m và nhìn thấy Đ đang cầm 01 con dao ngồi phía sau xe K1. Khi xe K1 chở Đ bỏ chạy thì H điều khiển xe chở H3, Hải N1 còn K2 chở T7 đuổi theo xe của Đ. Khi nhóm H đuổi đến quán “Bụi P1” thì C1 và D1 mỗi người cầm 01 viên gạch để ném về nhóm Đ nhưng do đông học sinh tan học và nhóm Đ đi nhanh nên C1 và D1 không kịp ném. Khi nhóm của H đuổi gần đến ngã ba N, xã A thì T7 cầm con dao ném về phía xe Đ thì trúng vào lưng Đ và bị kẹp phía sau yên xe, K1 chở Đ tiếp tục điều khiển xe máy bỏ chạy. Quá trình đuổi nhau, các xe đi với tốc độ khoảng 60km/h, lạng lách qua nhiều phương tiện. Khi đi đến đoạn siêu thị V2 thì H điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave chở theo Hải Nam vượt lên phía bên phải xe Đ. Lúc này, Đ đi bên trái của xe H nên đã dùng dao chém 01 nhát vào cổ tay trái của H rồi cả nhóm tiếp tục bỏ chạy còn H bị thương tích nên đã dừng lại. Khi đi đến nhà máy G, Đ vứt con dao trên vào xe rác. Khi đến ngã tư đèn xanh đèn đỏ ở L, phường D, quận H, TP . thì Đ thấy con dao kẹp ở tay xách phía sau yên xe Vision của K1 điều khiển, Đ nhặt con dao trên và quay lại tìm T2 với D.
Sau khi xe của K1 chở Đ cầm dao bỏ chạy được khoảng 02 phút thì T2 chở D cũng đi theo sau. Đi được một đoạn thì T2 và D thấy đông người nên dừng xe lại, lúc này T2 và D nhìn thấy H bị thương tích quấn khăn ở tay và đông người quây xung quanh nên T2 tiếp tục chở D bỏ về. Khi xe của T2 chở D đi về thì gặp xe của K1 chở Đ đang đi tìm tại ngã tư đường tàu đường L thì tất cả di chuyển bỏ về.
Sau khi bị Đ chém, H được đưa đi bệnh viện Đ4 để xử lý vết thương. Đến ngày 19/02/2023, anh Nguyễn Văn C là bố H đã đến Công an xã A trình báo sự việc trên.
Hậu quả: Nguyễn Văn H bị vết thương phần mềm mặt sau cổ tay trái tương đương 05cm, bờ sắc gọn (theo Bản tóm tắt bệnh án chưa ra viện lập ngày 20/02/2023 tại Bệnh viện đa khoa quận Đ4).
Tang vật thu giữ:
- 01 (một) con đao bằng kim loại, dài 49cm, bản rộng nhất rộng 07cm, phần rộng nhất của tay cầm rộng 03cm (do Trần Quang Đ giao nộp, Đ khai đây là con dao Đ bị nhóm của Nguyễn Đăng Khánh Đ2 ném trúng vào lưng Đ và bị mắc lại giữa tay cầm phía sau và yên xe bên phải xe mô tô Honda Vision).
Đối với 01 gậy dạng 03 khúc dài 25cm do Đ mang đi để đánh nhau, quá trình điều tra Đ khai bị rơi trong quá trình đuổi đánh nhau nên không biết rơi ở vị trí nào. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ để truy tìm và thu giữ.
Ngày 07/4/2023, Cơ quan CSĐT – Công an huyện H nhận được đơn tự nguyện từ chối giám định thương tích, không yêu cầu khởi tố vụ án của H và người giám hộ của H. Do vậy, hành vi của nhóm Quang Đ không cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điều 134 BLHS nên Cơ quan CSĐT – Công an huyện H đã chuyển tài liệu đến Công an huyện H để ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Đối với hành vi của Nguyễn Duy T7 dùng tuýp sắt vụt Trần Quang Đ, do Đ không có đề nghị gì nên hành vi của nhóm T7 không cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điều 134 BLHS nên Cơ quan CSĐT – Công an huyện H đã chuyển tài liệu đến Công an huyện H để ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Đối với Nguyễn Quang D1 tính đến thời điểm phạm tội là 15 tuổi 07 tháng 30 ngày. Căn cứ khoản 2 Điều 12 BLHS thì D1 không đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy Cơ quan CSĐT– Công an huyện H không có căn cứ để xử lý hình sự đối với D1.
Đối với Nguyễn Doãn T9, Trần Huy C2, Trần Tiến Đ3 quá trình điều tra xác định, T9 đứng ra hòa giải cho Đ2 và Quang Đ, T9 không nói với cả nhóm là sẽ đánh nhau với nhóm Quang Đ. Mặt khác, Doãn T9, C2, Tiến Đ3 đều không biết việc H và N1 rủ thêm các bị cáo khác để đánh nhóm của Quang Đ. Quá trình diễn biến đánh nhau thì Doãn T9, C2, Tiến Đ3 cũng không biết. H và N1 đều khai biết việc Đ2 có mâu thuẫn với Quang Đ nên khi được Đ2 nhờ giải quyết bằng hình thức đánh nhau với Quang Đ thì H, N1 đồng ý giúp. Do vậy, hành vi của T9, C2, Tiến Đ3 không đồng phạm về hành vi “Gây rối trật tự công cộng” với nhóm của H nên Cơ quan CSĐT– Công an huyện H không đề cập xử lý.
Đối với các xe máy các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội cụ thể như sau:
- Đối với chiếc xe máy do Nguyễn Văn Hoàng D cho K1 mượn chở Đ3 có nhãn hiệu Honda Vision màu đen, biển số 29L1 – 907.68, đây là xe đứng tên D, sau khi phạm tội D đã bán cho một người không rõ lai lịch nên Cơ quan CSĐT không thu giữ được. Qua tra cứu, chiếc xe không nằm trong danh sách vật chứng.
- Đối với chiếc xe máy do Nguyễn Đình K2 điều khiển có nhãn hiệu Honda Wave, biển số 29X5-768.71, đây là xe đứng tên D1, sau khi phạm tội D1 đã bán cho một người không rõ lai lịch nên Cơ quan CSĐT không thu giữ được. Qua tra cứu chiếc xe không nằm trong danh sách vật chứng.
- Đối với chiếc xe máy Honda Wave màu xanh đen do Đào Văn T2 sử dụng, T2 khai không nhớ biển số xe, T2 mượn của một người tên T10 làm gần nhà T2, T2 không rõ lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.
- Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng (không rõ biển số) do N1 mượn của một người bạn (không rõ lai lịch) tại quán nước, sau khi thực hiện hành vi Nam trả lại nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.
Xác minh tại UBND xã A xác định: Nhóm thanh niên đuổi đánh nhau trên tuyến đường 423 thuộc thôn N, xã A, huyện H, TP . là đoạn đường đông dân cư gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự nên UBND xã đề nghị xử lý nghiêm các đối tượng trên.
Tại Bản Cáo trạng số 57/CT-VKSHĐ ngày 23/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội đã truy tố các bị cáo Nguyễn Đăng Khánh Đ2, Trần Quang Đ, Lê Văn K1, Nguyễn Văn Hoàng D, Đào Văn T2, Nguyễn Văn H, Chu Công Hải N1, Nguyễn Bá H3, Nguyễn Đình K2, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Duy T7 về tội: “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, VKSND huyện Hoài Đức sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo, giữ nguyên truy tố về tội danh “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại Điều 318 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo, quyết định rút truy tố từ khoản 2 xuống khoản 1 Điều 318 BLHS đối với các bị cáo Nguyễn Đăng Khánh Đ2, Nguyễn Văn H, Chu Công Hải N1, Nguyễn Bá H3. Giữ nguyên quan điểm truy tố tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự đối với Trần Quang Đ, Lê Văn K1, Nguyễn Văn Hoàng D, Đào Văn T2, Nguyễn Đình K2, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Duy T7 và đề nghị:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Quang Đ với mức án từ 30 tháng đến 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách đến 60 tháng;
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 56 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Văn K1 với mức án từ 30 tháng đến 36 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/9/2023;
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Hoàng D, Đào Văn T2 với mức án từ 24 tháng đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 đến 60 tháng.
Áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 91, khoản 1 Điều 101, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng Khánh Đ2 với mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng;
Áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 91, khoản 1 Điều 101, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H, Chu Công Hải N1 với mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng;
Áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 91, Điều 17, khoản 1 Điều 101, Điều 56 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Bá H3 với mức án từ 12 đến 15 tháng tù, tổng hợp hình phạt của bản án trước;
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 91, khoản 1 Điều 101, Điều 56 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đình K2, Nguyễn Duy T7 với mức án từ 27 đến 30 tháng tù, tổng hợp hình phạt của bản án trước;
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 91, khoản 1 Điều 101, Điều 56 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C1 với mức án từ 20 đến 24 tháng tù, tổng hợp hình phạt của bản án trước;
Tịch thu tiêu hủy 01 con dao kim loại thu giữ của Trần Quang Đ. Về án phí, các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Người bào chữa cho các bị cáo, người đại diện cho các bị cáo chưa thành niên nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức về tội danh và điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
Các bị cáo thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải, đề nghị HĐXX cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai báo toàn bộ hành vi phạm tội. Các bị cáo, người bào chữa, người đại diện cho các bị cáo chưa thành niên và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên toà, phù hợp với lời khai người làm chứng, vật chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:
Xuất phát từ mâu thuẫn cá nhân giữa Nguyễn Đăng Khánh Đ2 và Trần Quang Đ nên ngày 18/2/2023 Đ2 nhờ Nguyễn Văn H và Chu Công Hải N1 rủ thêm người để đi đánh nhau với nhóm của Đ.
Đ rủ thêm Nguyễn Văn Hoàng D, Đào Văn T2 và Lê Văn K1 cùng mình đi gặp Đ2 tại cổng trường Trung học phổ thông H6 để đánh nhau. Tại đây, Đ2 đã chỉ nhóm Đ cho H và N1 nhận diện và do bị Đ đuổi nên Đ2 chạy vào trong trường. H và N1 đi ra quán B2 để rủ thêm người thì gặp Nguyễn Bá H3, Nguyễn Đình K2, Nguyễn Duy T7, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Quang D1 (thời điểm này được 15 tuổi 02 tháng 01 ngày) và rủ cả nhóm đi đánh nhau với nhóm Đ. Cả nhóm đồng ý và thống nhất, K2, T7 chặn ở ngõ I, Chỉnh, H3, D1 chặn ở khu vực quán “Bụi Phố”, H và Nam chặn ở cổng sau của trường (giữa các bị cáo không bàn bạc gì về việc chuẩn bị hung khí và dùng hung khí). Khi H, N1 lên xe đi thì H3 nhảy lên xe đi cùng. Trên đường đi đến ngõ I, K2 và T7 tự nhặt 01 tuýt sắt dài khoảng 1,2m, 01 con dao dài khoảng 40cm bằng kim loại ở khu vực nhà dân gần đó. Chỉnh, D1 nhặt mỗi người một viên gạch bên đường để ném. Sau khi đuổi đánh Đ2 không được, nhóm Đ đi vào ngõ I để tìm đánh nhóm Đ2. Tại đây, K1 chở Đ bị K2, T7 chặn đánh nên Đ đã nhặt 01 con dao bằng kim loại dài khoảng 40cm ở gần khu nhà đang xây và bỏ chạy. T2 và D phóng xe chạy theo. Trên đường chạy, đến quán B2 thì C1, D1 cầm gạch nhưng do K1, Đ đi nhanh và lúc đó đông học sinh tan học nên không kịp ném. Đ, K1 gặp xe của H chở N1 và H3, Đ đã dùng dao chém về phía xe H, H3 sợ quá nên nhảy ra khỏi xe, Đ chém trúng cổ tay trái của H, rồi cả nhóm tiếp tục bỏ chạy. Do bị thương tích nên H, N1 dừng xe lại. Đ tiếp tục bị K2, T7 vượt đuổi, T7 ném về phía xe Đ và con dao bị kẹp vào yên xe chỗ Đ ngồi. Quá trình đuổi đánh nhau trên tuyến đường 423 thuộc xã A, các nhóm đi xe máy với tốc độ khoảng 60km/h, lạng lách trên đoạn đường có mật độ giao thông đông người, thời điểm diễn ra khi trường trung học phổ thông H6 B tan học. Mặt khác, UBND xã A có đề nghị xử lý nghiêm các đối tượng do đã có hành vi gây mất an ninh trật tự trên địa bàn.
Hành vi của các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng lớn đến giao thông công cộng, đe dọa đến sức khỏe, tính mạng của người tham gia giao thông, gây hoang mang, bất bình trong nhân dân, gây mất trật tự trị an xã hội, các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ mức độ nguy hiểm của hành vi nhưng vẫn cố ý thực hiện.
Khi bàn bạc thực hiện hành vi, nhóm H không bàn bạc về việc sử dụng hung khí. Việc K2, T7, C1, D1 sử dụng hung khí là vượt quá sự thống nhất của cả nhóm. Đ2, H, N1, H3 không biết K2, T7, C1, D1 sử dụng hung khí, nên Đ2, H, N1, H3 không phải chịu trách nhiệm về hành vi vượt quá này (dùng hung khí). Do vậy, hành vi của các bị cáo Nguyễn Đăng Khánh Đ2, Nguyễn Văn H, Chu Công Hải N1, Nguyễn Bá H3 đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức rút một phần cáo trạng, đề nghị truy tố và kết luận Nguyễn Đăng Khánh Đ2, Nguyễn Văn H, Chu Công Hải N1, Nguyễn Bá H3 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015 là phù hợp nên chấp nhận.
Hành vi của các bị cáo Trần Quang Đ, Lê Văn K1, Nguyễn Văn Hoàng D, Đào Văn T2, Nguyễn Đình K2, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Duy T7 đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức truy tố và kết luận về hành vi phạm tội của các bị cáo này là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Các bị cáo tuổi đời còn trẻ, có những bị cáo đang ngồi trên ghế nhà trường, nhưng không chịu rèn luyện, tu dưỡng bản thân, ham mê chơi bời, rủ rê, đàn đúm, tụ tập, sẵn sàng sử dụng hung khí để đuổi đánh nhau ở những nơi công cộng. Do vậy, cần xử lý nghiêm minh để giáo dục, cải tạo đối với các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
[5] Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với từng bị cáo như sau:
Về vai trò của từng bị cáo trong vụ án:
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, giữa các bị cáo không có sự phân công nhiệm vụ cụ thể trong việc thực hiện hành vi. Hội đồng xét xử đánh giá vai trò của từng bị cáo như sau:
Bị cáo Đ là người khởi xướng, rủ rê K1, D, T2 tham gia, lấy hung khí và trực tiếp sử dụng hung khí, tích cực thực hiện hành vi phạm tội nên có vai trò chính và chịu trách nhiệm cao nhất trong nhóm. K1 tham gia với vai trò là người giúp sức tích cực cho Đ, chở Đ, phóng xe với tốc độ cao, đuổi nhau, lạng lách nên có vai trò thứ hai trong đồng phạm. T2, D do bị rủ rê, lôi kéo, tuy không trực tiếp dùng hung khí, thụ động đi theo xe của K1 và Đ nên giữ vai trò thứ ba trong nhóm.
Bị cáo Đ2 tuy không phải là người trực tiếp tham gia thực hiện hành vi nhưng là người khởi xướng, rủ rê bị cáo H, N1 thực hiện hành vi phạm tội nên giữ vai trò cao nhất trong nhóm các bị cáo H, N1, H3. Bị cáo H, N1 là người nhiệt tình rủ rê, lôi kéo các bị cáo khác tham gia, H là người trực tiếp lái xe, phóng xe với tốc độ cao, lạng lách trên đường nên H, N1 giữ vai trò thứ hai. Hiệu ngồi sau xe của H, tham gia giữa chừng thì sợ nên chủ động nhảy ra khỏi xe không tham gia nữa nên có vai trò thấp nhất.
K2, T7 là người chuẩn bị hung khí và trực tiếp đánh Đ. K2 là người lái xe đuổi theo xe Đ, T7 là người sử dụng hung khí, phi dao về phía xe của Đ, nên giữ vai trò thực hành tích cực trong vụ án. Chỉnh chặn đầu xe nhóm của Đ, cầm gạch ném nhưng do nhóm Đ chạy nhanh nên không ném được tuy không tham gia trong quá trình các xe đuổi đánh nhau nhưng tham gia với vai trò đồng phạm giúp sức trong vụ án.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ:
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, các bị cáo khác đều “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo D, T2 tham gia với vai trò không đáng kể trong vụ án, lần đầu phạm tội; Các bị cáo Đ2, H, N1 phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cùng được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo Trần Quang Đ, Nguyễn Văn Hoàng D, Đào Văn T2, Nguyễn Đăng Khánh Đ2, Nguyễn Văn H, Chu Công Hải N1 đều có nhân thân tốt. Ngoài ra, các bị cáo Đ, D, K2 thuộc trường hợp gia đình có công với cách mạng. Gia đình bị cáo H3 có ông nội, hai bác ruột là người có công với cách mạng, ông ngoại là người thờ cúng liệt sỹ. Gia đình bị cáo H có thành tích trong phong trào từ thiện xã hội năm 2022, 2023, 2024, được Ban chấp hành Hội chữ thập đỏ thành phố Hà Nội chứng nhận danh hiệu Gia đình Chữ thập đỏ cấp thành phố năm 2022, 2023. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Đối với các bị cáo Đ, D, T2, Đ2, H, Nam, HĐXX nhận thấy, các bị cáo đều có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, Đ đang là sinh viên, D, T2 tham gia với vai trò không đáng kể, bị cáo Đ2, H, N1 phạm tội khi dưới 18 tuổi, các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đều có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết áp dụng hình phạt tù giam cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, cho các bị cáo hưởng án treo, chịu sự giám sát của chính quyền địa phương trong thời gian thử thách của án treo cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo đối với các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
Đối với bị cáo Nguyễn Bá H3, Nguyễn Đình K2, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Duy T7 đều có nhân thân xấu, do vậy, cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và tình tiết nêu trên.
Đối với bị cáo Lê Văn K1, do hành vi phạm tội này xảy ra trước khi Bản án số 413/2023/HSPT ngày 19/5/2023 TAND thành phố Hà Nội xử phạt 21 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 42 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Gây rối trật tự công cộng” có hiệu lực, do vậy, không áp dụng khoản 1 Điều 65 Bộ luật Hình sự để tổng hợp bản án.
[7] Các bị cáo (trừ bị cáo Đ, K1, D, T2), đều là người chưa thành niên phạm tội (từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi) nên áp dụng các Điều 90, 91, 58 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt.
Đối với bị cáo C1, với vai trò đồng phạm không đáng kể, áp dụng chính sách nhân đạo đối với người chưa thành niên phạm tội, nhận thức pháp luật còn hạn chế nên áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để cho bị cáo được hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
[8] Tại Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 15/4/2024 của TAND huyện Hoài Đức đã xử phạt bị cáo Nguyễn Bá H3 20 tháng tù, Nguyễn Đình K2 22 tháng tù, Nguyễn Duy T7 20 tháng tù đều về tội “Cố ý gây thương tích”.
Tại Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 12/01/2024 của TAND huyện Hoài Đức đã xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C1 19 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Các bị cáo đang chấp hành hình phạt của bản án trên, do vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt của các bản án trước.
[9] Đối với thương tích của Đ và H, cả hai từ chối giám định thương tích và không yêu cầu khởi tố vụ án nên cơ quan điều tra không giải quyết là có cơ sở.
[10] Đối với hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” của Trần Quang Đ, Nguyễn Đình K2 và Nguyễn Duy T7, ngày 23/11/2023, Công an huyện H căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 7 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
[11] Đối với Nguyễn Doãn T9, Trần Huy C2, Trần Tiến Đ3 không đồng phạm về hành vi “Gây rối trật tự công cộng” với nhóm của H nên Cơ quan CSĐT Công an huyện H không đề cập xử lý là phù hợp.
[12] Đối với Nguyễn Quang D1 có vai trò đồng phạm trong vụ án nhưng tại thời điểm phạm tội D1 chưa đủ 16 tuổi (được 15 tuổi 02 tháng 01 ngày). Căn cứ khoản 2 Điều 12 BLHS thì D1 không đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan CSĐT – Công an huyện H không đề cập xử lý hình sự là có căn cứ.
[13] Về vật chứng:
- Tịch thu, tiêu hủy 01 con dao bằng kim loại do Trần Quang Đ giao nộp là phù hợp với Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự.
- Đối với chiếc xe mô tô do Nguyễn Văn Hoàng D điều khiển có nhãn hiệu Honda Vision màu đen, biển số 29L1-907.68 đứng tên D, đối với chiếc xe mô tô do Nguyễn Đình K2 điều khiển có nhãn hiệu Honda Wave, biển số 29X5-768.71 đứng tên D1, qua tra cứu chiếc xe không nằm trong danh sách vật chứng, sau khi phạm tội D, D1 đã bán cho một người không rõ lai lịch nên Cơ quan CSĐT không thu giữ được để xử lý là phù hợp.
- Đối với chiếc xe mô tô Honda Wave màu xanh đen do Đào Văn T2 sử dụng, T2 khai không nhớ biển số xe, T2 mượn của một người tên T10 làm gần nhà T2, T2 không rõ lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý là phù hợp.
- Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng (không rõ biển số) do N1 mượn của một người bạn (không rõ lai lịch) tại quán nước, sau khi thực hiện hành vi Nam trả lại nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý là phù hợp.
[14] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[15] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo chưa thành niên, người đại diện cho các bị cáo chưa thành niên có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố: Các bị cáo Trần Quang Đ, Lê Văn K1, Nguyễn Văn Hoàng D, Đào Văn T2, Nguyễn Đình K2, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Duy T7, Nguyễn Đăng Khánh Đ2, Nguyễn Văn H, Chu Công Hải N1, Nguyễn Bá H3 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
-
Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Trần Quang Đ 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trần Quang Đ cho Ủy ban nhân dân phường D, quận H, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn K1 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/9/2023.
Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 91, khoản 1 Điều 101, khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Duy T7 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 20 tháng tù của Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 15/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 41 (Bốn mươi mốt) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/11/2023.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình K2 20 (Hai mươi) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 22 tháng tù của Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 15/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 42 (Bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/11/2023.
Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, 58, 91, khoản 1 Điều 101, khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn C1 13 (Mười ba) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 19 tháng tù của Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 12/01/2024 của TAND quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 32 (Ba mươi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/8/2023.
Căn cứ: khoản 1 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58, Điều 91, khoản 1 Điều 101, Điều 38, khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Bá H3 06 (Sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 20 tháng tù của Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 15/4/2024 của TAND huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 26 (Hai mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/11/2023.
Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Bị cáo Đào Văn T2 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Hoàng D 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Đào Văn T2, Nguyễn Văn Hoàng D cho Ủy ban nhân dân phường Đ, quận N, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Căn cứ: khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58, 91, khoản 1 Điều 101, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đăng Khánh Đ2 12 (Mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Đăng Khánh Đ2 cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Căn cứ: khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58, 91, khoản 1 Điều 101, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 10 (Mười) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện H, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Xử phạt: Bị cáo Chu Công Hải N1 10 (Mười) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Chu Công Hải N1 cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện H, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì có thể bị buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
-
Về vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
+ Tịch thu tiêu hủy 01 dao bằng kim loại, dài 49 cm, bản rộng nhất 07 cm, phần rộng nhất của tay cầm 03cm.
(Vật chứng trên hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/12/2023 giữa Công an huyện H, TP . Hà Nội và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Đức, TP . Hà Nội)
-
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo chưa thành niên, người đại diện của các bị cáo chưa thành niên có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Thị Lan Anh |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA
PHIÊN TÒA
Bản án số 75/2024/HSST ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm về tội "gây rối trật tự công cộng"
- Số bản án: 75/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội "Gây rối trật tự công cộng"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Quang Đạt và đồng phạm
