TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 75/2024/HS- ST Ngày 09/9/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán: Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hà.
Thẩm phán: Ông Đặng Văn Quyết.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Đức Kha.
Bà Nguyễn Thị Phú.
Ông Nguyễn Văn Thục.
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Lương Mỹ Linh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Bá T - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 04/9 và ngày 09/9/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 50/2024/HSST ngày 21/6/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2024/QĐXXST-HS ngày 08/8/2024; Quyết định hoãn phiên toà số 115/2024/HSST-QĐ ngày 22/8/2024 và Quyết định tạm ngừng phiên toà số 09/2024/QQĐ-ST ngày 04/9/2024 đối với bị cáo:
Họ tên: Dương Quỳnh N, sinh năm 1993; giới tính: nữ; tên gọi khác: không; nơi cư trú: số nhà A, thôn Đ, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: lớp 11/12; nghề nghiệp: lao động tự do; họ tên bố: Dương Ngọc T1, sinh năm 1973; họ tên mẹ: Lương Thị N1, sinh năm 1976; gia đình có hai chị em, bị cáo là thứ nhất; họ tên chồng: Tô T, sinh năm 1984 (Đã ly hôn); con: 01 con, sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29/9/2023 đến nay, hiện đang tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
* Người bào chữa cho bị cáo Dương Quỳnh N:
Luật sư Dương Minh K – Văn phòng Luật sư Dương Minh N2 thuộc Đoàn luật sư tỉnh B (có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án).
Địa chỉ: Số H đường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
* Bị hại: Ông Trần Minh Q, sinh năm 1993. (có mặt tại phiên tòa).
Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Đàm Thị Đ, sinh năm 1992. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Số E Tháp T, Chung cư E, phường A, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.
Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1996. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Khu phố M, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.
Ông Dương Ngọc T1, sinh năm 1973. (Có mặt).
Địa chỉ: thôn Đ, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Anh Dương Ngọc T2, sinh năm 2000 (Có mặt).
Địa chỉ: thôn Đ, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Người giám hộ cho anh T2: Ông Dương Ngọc T1 và bà Lương Thị N1 (Có mặt).
Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Bà Lương Thị N1, sinh năm 1976 (Có mặt).
Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Anh Đào Văn H, sinh năm 1987 (Có mặt).
Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
*Người làm chứng:
Chị Lương Thị L, sinh năm 1993 (có mặt).
Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Chị Phạm Thị N3, sinh năm 1988 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số H, Chung cư Đ, phường L, thành phố B.
Chị Khổng Thị T3, sinh năm 1971 (có mặt).
Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo Dương Quỳnh N bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng đầu tháng 5/2022, Dương Quỳnh N, sinh năm 1993, trú tại thôn Đ, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang làm công nhân thời vụ và thuê nhà trọ ở thôn Y, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. N sử dụng 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Promax, lắp sim số 0365.226.598 đăng ký tài khoản Facebook tên “Hoa B Ngạn” và tài khoản Z tên “ム-ン血液” (có tên phiên âm là “Moon Sakura”, gọi tắt là tên chữ Nhật Bản). Đồng thời, tại máy điện thoại này, N sử dụng thêm 01 tài khoản Facebook “Mon Sakura” được đăng ký bằng tài khoản Gmail, đặt ảnh đại diện hình cuốn sách và đăng các bài viết có hình ảnh của chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1996, trú tại khu phố M, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa. N khai quen biết chị C vào thời điểm bị cách ly tập trung tại điểm phòng chống dịch Covid-19 ở huyện C, tỉnh Lạng Sơn vào tháng 4 năm 2021. Do không có công ăn việc làm ổn định và nợ tiền của nhiều người nên N đã nảy sinh ý định sử dụng tài khoản Facebook “Mon Sakura” đăng tải các hình ảnh của chị C (được N tải về từ tài khoản Facebook “Nguyễn Phương T4”) mục đích giả mạo bản thân, kết bạn nói chuyện, lợi dụng tình cảm của người khác sau đó thực hiện các hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Vào thời gian này, tài khoản Facebook “Mon Sakura” của N đã kết bạn với tài khoản Facebook “Minh Quang” của anh Trần Minh Q, sinh năm 1993, trú tại thôn Đ, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Ngày 17/5/2022, sau khi thấy Facebook "Mon Sakura” của N đăng tải hình ảnh chị C nên anh Q đã chủ động nhắn tin với N qua ứng dụng Messenger để làm quen, sau đó cả hai cùng giới thiệu về đặc điểm bản thân, địa chỉ, hoàn cảnh gia đình... Cùng ngày, N và Q kết bạn zalo với nhau (N sử dụng tài khoản zalo chữ Nhật B1 còn anh Q sử dụng tài khoản zalo "Minh Quang”). Cả hai thường xuyên sử dụng tài khoản zalo để nói chuyện, liên lạc với nhau. Quá trình nói chuyện, N giới thiệu và đưa ra các thông tin gian dối về bản thân như: N có tên đầy đủ là Dương Quỳnh N, sinh ngày 20/10/1993, hình ảnh đăng trên Facebook là hình ảnh của bản thân, N có bố mẹ sinh sống, làm việc ở nước Đức, N đang làm giảng viên dạy tiếng Nhật, chưa có chồng con, hiện đang sinh sống cùng với em trai tên T2 ở số D N, quận C, thành phố Hà Nội, gia đình của N có nhà thờ tổ ở thôn Đ, xã T, thành phố B, ông bà nội của N đều là đảng viên, cán bộ nghỉ hưu sinh sống tại Hà Nội, gia đình có kinh doanh kho gạo, kho ga. Vì vậy, anh Q đã tin tưởng và nhắn tin hẹn hò tình cảm với N. Quá trình nói chuyện, N và anh Q không thực hiện các cuộc gọi có hình ảnh nên anh Q không biết N giả mạo hình ảnh của chị C.
Đến khoảng tháng 6/2022, mặc dù chưa gặp mặt nhưng anh Q đã nảy sinh tình cảm với N. Lợi dụng tình cảm của anh Q, N bắt đầu nhận được tiền của anh Q tặng để mua quà, đồng thời vay tiền của anh Q, mục đích N sử dụng số tiền trên để trả nợ và chi tiêu cá nhân. Ngày 18/7/2022, N đăng ký tài khoản ngân hàng V số 9199228386 mục đích để chuyển khoản qua lại với tài khoản số 2910140020193 do N đã đăng ký tại ngân hàng M nhằm chụp hình ảnh biến động số dư để gửi cho Q tin tưởng về việc N làm ăn, kinh doanh.
Do nhiều lần anh Q hẹn gặp mặt N nên để duy trì sự tin tưởng của anh Q, ngày 15/9/2022, N tiếp tục sử dụng tài khoản Facebook “Mon Sakura” và tài
khoản Z chữ Nhật B1 nói chuyện với anh Q về việc N có người giúp việc tên là T5, quê ở huyện Y, tỉnh Bắc Giang đã làm giúp việc cho gia đình N nhiều năm, ngày nghỉ cuối tuần theo ông bà nội của N về nhà thờ tổ ở thôn Đ, xã T nên sẽ mang giúp các đồ đạc, vật phẩm mà Q và N trao tặng nhau. Đồng thời, N mua 01 máy điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 sử dụng tài khoản facebook, zalo đều có tên “Hoa B Ngạn” giả danh là T5 để liên lạc, nói chuyện với anh Q. N giả danh T5 và giới thiệu: T5 quê Bắc Giang nhưng sinh sống tại Bình Dương từ nhỏ, đã làm giúp việc cho gia đình N được vài năm. Mỗi khi giả danh T5 nói chuyện trực tiếp với anh Q thì N nói giả giọng miền N để tránh việc bị anh Q phát hiện (do từ nhỏ N sống và học phổ thông tại xã B, huyện K, tỉnh Đắk Nông). Trong vai giả danh là T5 thì N cũng đưa ra các thông tin về Dương Quỳnh N như những thông tin mà N đã nói dối anh Q trước đó. Qua đó, nhiều lần N giả danh T5 mang giao các đồ đạc, vật phẩm N và anh Q trao tặng cho nhau. Ngoài ra, N đưa ra lý do N bận công việc giảng dạy, kinh doanh, bản thân bị bệnh cần phải điều trị nên chưa có điều kiện để gặp anh Q. Cùng thời điểm này, chị Nguyễn Thị C đang kinh doanh làm đẹp tại số D Đ, K, quận Đ, thành phố Hà Nội nên N đã hẹn gặp chị C với mục đích sẽ lợi dụng chụp hình ảnh, quay video chị C để gửi và nói dối Q về việc T5 đang gặp N. Do đó, khi gặp chị C, N sử dụng facebook “Hoa Bỉ N” gọi video để anh Q trực tiếp nhìn và nói chuyện với chị C và N.
Đầu tháng 9/2022, N nói dối anh Q về việc N có anh họ tên H đang làm nghề xây dựng và chuẩn bị kinh doanh trạm trộn bê tông tại địa bàn Hà Nội cùng một người bạn của H tên là C1, nếu Q góp số tiền 1.000.000.000 đồng thì sẽ được hưởng lợi nhuận 150.000.000 đồng/tháng, 02 tháng sẽ thanh toán 01 lần. Do tin tưởng N, ngày 25/9/2022, anh Q đã giao cho N số tiền 1.000.000.000đồng để góp vốn kinh doanh (bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng mang tên mẹ N, nhưng do N sử dụng tài khoản này).
Ngoài ra, N đưa ra thông tin về việc C1 có tình cảm yêu N nhưng N không đồng ý, N đã vay tiền của C1 để đầu tư kinh doanh nên N cần có tiền để trả nợ C1. Do đó, anh Q đề nghị nói chuyện với C1 thì N chuẩn bị sẵn 01 nhóm zalo chung, liên lạc với anh C1 – là người mà N đã nợ số tiền 1.000.000.000 đồng kể từ năm 2021 và bảo anh C1 nói chuyện phù hợp với các tài khoản facebook, zalo, việc đầu tư góp vốn kinh doanh nêu trên để anh Q tin tưởng.
Tháng 10/2022, anh Q mua tặng N 01 sim số thuê bao 0911.29.1993 để liên lạc cùng mạng di động với anh Q. Đến ngày 13/11/2022, N sử dụng số thuê bao này đăng ký tài khoản zalo “Moon”; đồng thời sử dụng số thuê bao 0366.718.098 đăng ký tài khoản Zalo “Piter” kết bạn nói chuyện với anh Q, giới thiệu tên là T2 - em ruột của N.
Sau lần anh Q đầu tư kinh doanh nêu trên, N tiếp tục đưa ra các thông tin cần tiền để kinh doanh, trả nợ trong đó có vay tiền của C1 là người cùng góp vốn kinh doanh trạm trộn bê tông nên N cần tiền xoay vòng làm ăn; nói dối bản thân lại đi chữa trị bệnh ung thư máu ở nước ngoài nên nhiều lần vay tiền của anh Q. Đầu tháng 11/2022, N sử dụng số thuê bao 0865577695 đăng ký tài
khoản facebook tên “Moon Sakura (Mon mập)” vẫn sử dụng hình ảnh của chị C và kết bạn với facebook “Minh Quang” để tiếp tục nói chuyện.
Thời điểm này, N và chị Lương Thị L (sinh năm 1993, trú tại thôn Đ, xã T, TP B) ở cùng phòng trọ với nhau. Trong đó, chị L làm công nhân tại Khu Công nghiệp Q - Bắc Ninh. Để tiếp tục lừa dối anh Q, ngày 15/11/2022, N mượn điện thoại và tài khoản Facebook của chị L là “Lương lan” nói chuyện với Q, nhắn tin nói dối với nội dung: N nợ tiền của anh C1 – người đầu tư kinh doanh trạm trộn bê tông, trong đó, nói C1 yêu N còn N phản đối và bị bố đẻ đánh. Mục đích để anh Q thương cảm và giao tiền trả nợ cho C1. Ngày 23/11/2022, anh Q chuyển khoản số tiền 130.000.000 đồng từ tài khoản của anh Q vào tài khoản của chị L (do N nói dối là bị đánh đau không đi lại được nên nhờ chị L nhận tiền và rút hộ N). Ngay sau khi nhận được tiền của anh Q chuyển đến, N thực hiện việc chuyển khoản số tiền trên sang tài khoản ngân hàng của N, các thao tác đều do N mượn máy điện thoại của chị L thực hiện sau đó xoá tin nhắn nên chị L không biết sự việc trên.
Giữa tháng 12/2022, bạn bè của anh Q phát hiện và thông báo về hình ảnh của chị Nguyễn Thị C mà anh Q đăng bài trên facebook không phải là hình ảnh thật của N. Anh Q yêu cầu N gặp mặt hoặc đưa ra hình ảnh thật của bản thân, yêu cầu rút tiền đầu tư kinh doanh, tiền N đã vay của anh Q để làm ăn. Do không có tiền để trả anh Q nên N tiếp tục sử dụng hình ảnh của chị Đàm Thị Đ, sinh năm 1992, trú tại số E Tháp T, Chung cư E, phường A, quận T, thành phố Hồ Chí Minh (là bạn học cùng trung học phổ thông với N) gửi cho anh Q và tiếp tục nói dối về việc: Hình ảnh của chị Đ là hình ảnh của bản thân N. Đồng thời, N tiếp tục giả danh T5, T2 nói dối anh Q về hình ảnh chị Đ mà N đã gửi là đúng sự thật. Sau đó, N đổi tên facebook từ “Moon Sakura (Moon mập)” sang tên “Quỳnh Nga (Moon mập)”, số điện thoại đăng ký vẫn là: 0865577695 và tạm khoá tài khoản facebook “Moon Sakura” đăng ký bằng Gmail.
Theo thoả thuận lợi nhuận kinh doanh trước đó, N thực hiện việc trả tiền cho anh Q. Mặt khác, N vẫn cần tiền để đầu tư làm ăn cá nhân nên vào tháng 3-4/2023, N tiếp tục giả danh T2 hỏi vay tiền của anh Q để N trả nợ và trả lương cho T5. Do đó, anh Q tiếp tục đồng ý cho N vay tiền. Ngoài ra, N còn giả danh T2 hỏi vay tiền của anh Q để giải quyết việc cá nhân. Khi giao nhận tiền, N giả danh T5 trực tiếp ra gặp anh Q nhận tiền và thông báo sẽ đi ra Hà Nội giao lại cho T2.
Sau khi anh Q chuyển tiền góp vốn kinh doanh trạm trộn bê tông, N thực hiện theo thỏa thuận với anh Q về việc trả tiền lợi nhuận của các tháng 10-11-12/2022 và tháng 01/2023. Đến ngày 01/02/2023, N tiếp tục rủ anh Q đầu tư mở tiếp trạm trộn bê tông nên anh Q đã chuyển khoản cho N số tiền 500.000.000 đồng để góp vốn. Thỏa thuận số tiền lợi nhuận là 75.000.000 đồng/tháng. Lợi nhuận sẽ được nhận vào ngày cuối cùng hàng tháng.
Ngày 30/4/2023, anh Q đi họp lớp thì được bạn học kể về hoàn cảnh, gia đình của N. Sau đó, anh Q phát hiện toàn bộ sự việc Nga đã giả danh là T5, việc
N đã đưa ra các thông tin gian dối về bản thân và gia đình. Ngày 01/5/2023, anh Q tìm N và yêu cầu hoàn trả lại toàn bộ tiền đã giao cho N kể từ năm 2022.
Đến ngày 10/5/2023, tại gia đình N, dưới sự chứng kiến của bố mẹ, em trai, N đã viết giấy nhận nợ và hứa hẹn sẽ trả lại anh Q.
Ngày 22/8/2023, anh Trần Minh Q gửi đơn tố giác Dương Quỳnh N và gia đình về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Bút lục 159).
Ngày 01/9/2023, Cơ quan điều tra triệu tập, làm việc và thu giữ dữ liệu tin nhắn phù hợp với diễn biến nội dung N giả danh T5 trong quá trình chiếm đoạt tài sản của anh Q. N6 khai nhận toàn bộ nội dung hành vi chiếm đoạt tài sản của anh Q.
Căn cứ các tài liệu điều tra thu thập được, xác định các mã giao dịch, giao nhận tiền mà N đã chiếm đoạt của anh Q, cụ thể như sau:
- Qua tài khoản ngân hàng: N sử dụng tài khoản ngân hàng đăng ký tên N và các tài khoản ngân hàng mang tên Dương Ngọc T2, sinh năm 2000 (em trai N), Lương Thị N1, sinh năm 1976 (mẹ đẻ), Lương Thị L, sinh năm 1993 (bạn cùng phòng) để chuyển khoản với anh Q bằng tài khoản của anh Q, chị Phạm Thị N3, sinh năm 1988 (em họ anh Q), bà Khổng Thị T3, sinh năm 1971 (mẹ đẻ anh Q). Bằng các thủ đoạn huy động vốn đầu tư trạm trộn bê tông, nhận tặng quà, vay tiền..., anh Q tin tưởng nên đã chuyển khoản cho N 20 mã với tổng số tiền là 2.275.722.000 đồng (qua các tài khoản do N cung cấp), cụ thể như sau:
+ Ngày 20/6/2022, Q chuyển cho N 30.000.000 đồng.
+ Ngày 30/6/2022, Q chuyển cho N 30.000.000 đồng.
+ Ngày 06/7/2022, Q chuyển cho N 75.000.000 đồng.
+ Ngày 12/7/2022, Q chuyển cho N 100.000.000 đồng.
+ Ngày 18/7/2022, Q chuyển cho N 30.000.000 đồng.
+ Ngày 30/7/2022, Q chuyển cho N 500.000 đồng.
+ Ngày 05/8/2022, Q chuyển cho N 30.000.000 đồng.
+ Ngày 16/8/2022, Q chuyển cho N 70.000.000 đồng.
+ Ngày 25/9/2022, Q chuyển cho N 1.000.000.000 đồng.
+ Ngày 03/10/2022, Q chuyển cho N 50.000.000 đồng (N mua đồ cho Q, N nhận chưa trả 25.000.000 đồng).
+ Ngày 20/10/2022, Q chuyển cho N 22.222.000 đồng
+ Ngày 24/10/2022, Q chuyển cho N 7.000.000 đồng
+ Ngày 23/11/2022, Q chuyển cho N 130.000.000 đồng.
+ Ngày 20/12/2022, Q chuyển cho N 65.000.000 đồng.
+ Ngày 11/01/2023, Q chuyển cho N 10.000.000 đồng.
+ Ngày 01/02/2023, Q chuyển cho N 500.000.000 đồng.
+ Ngày 06/02/2023, Q chuyển cho N 26.000.000 đồng.
+ Ngày 14/3/2023, Q chuyển cho N 15.000.000 đồng.
+ Ngày 29/3/2023, Q chuyển cho N 70.000.000 đồng.
+ Ngày 30/4/2023, Q chuyển cho N 40.000.000 đồng.
- Qua đưa tiền mặt trực tiếp: Anh Q chuyển cho N tổng số tiền 2.010.000.000 đồng, cụ thể như sau:
+ Đầu tháng 10/2022, N nói dối về việc N vay để trả nợ cho anh C1 - người cùng làm ăn trạm trộn bê tông nên Q giao cho N 1.000.000.000 đồng (trong đó 01 lần giao 800.000.000 đồng và 15 ngày sau đưa tiếp 200.000.000 đồng).
+ Ngày 13/02/2023, N hỏi vay tiền trả nợ và chữa bệnh nên Q cho N vay 600.000.000 đồng.
+ Thời điểm giáp Tết Nguyên đán 2023, N hỏi vay tiền để đi lễ chùa nên Q cho N vay 10.000.000 đồng.
+ Ngày 24/02/2023, N hỏi vay tiền trả nợ nên Q giao cho N 200.000.000 đồng.
+ Ngày 16/4/2023, N giả danh T2 hỏi vay tiền mua máy tính nên Q giao cho N 30.000.000 đồng.
+ Ngày 24/4/2023, N giả danh T2 hỏi vay tiền nên Q giao cho N 170.000.000 đồng.
Tổng số tiền N chiếm đoạt của anh Q được xác định là 4.285.722.000 đồng. Trong quá trình vay tiền, do N sử dụng thủ đoạn đầu tư trạm trộn bê tông có lợi nhuận, vay tiền chữa bệnh, trả nợ, trả lương cho người giúp việc...nên N đã chuyển khoản lại cho anh Q 1.285.000.000 đồng và 190.000.000 đồng cho anh Q vay. Do đó, xác định số tiền trên là số tiền N khắc phục hậu quả về hành vi phạm tội của bản thân. Hiện nay, N còn chiếm đoạt của anh Q số tiền 2.810.722.000 đồng.
Ngoài ra, trong quá trình này, N và anh Q còn cho tặng nhau một số đồ vật, tài sản nhưng cơ quan điều tra không thu giữ được, N và anh Q đã đối ứng tài sản và không đề nghị xác định giá trị tài sản cũng như yêu cầu bồi thường đối với các đồ vật này.
Số tiền chiếm đoạt được của anh Q, N khai đã sử dụng trả nợ cho một người nam giới tên C1 làm công việc tổ chức đánh bạc qua mạng và cư trú tại thành phố Hồ Chí Minh (không rõ lai lịch, địa chỉ cụ thể) do N nợ C1 số tiền 1.000.000.000 đồng kể từ năm 2021 sau khi cộng tác làm Game bài do C1 tổ chức, phân phối; giao tiền mặt để đầu tư số tiền 1.500.000.000 đồng cho chị Bùi Phương L1, sinh năm 1992, HKTT: Thôn C, xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai để kinh doanh việc đổi tiền tại Campuchia (do từ tháng 8/2021, N đã sinh sống và làm ăn tại Campuchia cùng chị Bùi Phương L1); số tiền còn lại, N đã sử dụng để chi tiêu cá nhân.
* Kết quả giám định:
Tại Bản kết luận số 1790/KL-KTHS ngày 27/9/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B đã dịch văn bản tại 03 hội thoại gồm:
“+ Nội dung cuộc hội thoại trong file audio có tên “Nga lúc đầu.m4a”, dung lượng: 1MB, thời lượng: 02 phút 09 giây lưu trong đĩa DVD gửi giám định;
+ Nội dung cuộc hội thoại trong file audio có tên: “Cả nhà nhận và nga bản sao2.m4a", dung lượng: 2,96MB, thời lượng: 01 phút 48 giây lưu trong đĩa DVD gửi giám định;
+ Nội dung cuộc hội thoại trong file audio có tên: “Cả nhà nhận và nga bản sao2.m4a", dung lượng: 2,56MB, thời lượng: 01 phút 32 giây lưu trong đĩa DVD gửi giám định” (Bút lục 35-37).
Tại Bản kết luận số 1723/KL-KTHS ngày 19/9/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:
“Chữ ký (dạng chữ viết), chữ viết trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A1, A2 – trừ chữ viết có nội dung “Người làm chứng xác nhận làm chứng ngày làm giấy tờ là đúng” và chữ ký, chữ viết mang tên Dương Ngọc T1 ở mặt sau trên tài liệu cần giám định A1; “Ngân – Lương Thị N1”, “T2 – Dương Ngọc T2” dưới mục “Người viết” trên tài liệu cần giám định A2) so với chữ ký, chữ viết của Dương Quỳnh N trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M1, M2, M3) là do cùng một người ký, viết ra.” (Bút lục 41).
Tại Bản kết luận số 1936/KL-KTHS ngày 13/10/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:
“Trích xuất được 2,92GB dữ liệu, thông tin có trong 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS, màu trắng, số máy MT6GLL/A, số sê-ri G6TYRG02KPHD, số imei1 353-96103054756, số imei2 353096103007416.
Trích xuất được 20,3GB dữ liệu, thông tin có trong 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xám, số máy MG9P3LL/A, số sê-ri G0NDMUKK0D3Y, số imei1 356713112815509, số imei2 356713112726425" (Bút lục 38).
Về vật chứng đã thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max thu giữ của Dương Ngọc T2, 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax thu giữ của Dương Quỳnh N (được niêm phong) được bảo quản tại kho vật chứng thuộc Phòng Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp Công an tỉnh B.
Về trách nhiệm dân sự: anh Trần Minh Q yêu cầu Dương Quỳnh N phải trả lại cho anh Q số tiền N còn đang chiếm đoạt là 2.810.722.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 36/CT-VKS-P2 ngày 21/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Dương Quỳnh N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Dương Quỳnh N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Bị cáo N trình bày: Do cần tiền để phục vụ nhu cầu chi tiêu cá nhân nên bị cáo đã có hành vi gian dối để chiếm đoạt tiền của anh Q số tiền là 4.285.722.000 đồng. Nay bị cáo đã khắc phục hậu quả số tiền 1.285.000.000 đồng và 190.000.000 đồng cho anh Q vay. Số tiền trên bị cáo sử dụng trả nợ, để đầu tư... Hiện nay, bị cáo còn chiếm đoạt của anh Q số tiền 2.810.722.000 đồng, bị cáo đồng ý trả lại anh Q số tiền trên, nhưng nay bị cáo chưa có để trả cho anh Q.
Bị hại là anh Trần Minh Q trình bày như sau: Anh xác nhận bị cáo trình bày về việc bị cáo gian dối chiếm đoạt tiền của anh là đúng, anh đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và buộc bị cáo phải trả lại cho anh số tiền còn chiếm đoạt. Về hình phạt: Anh đề nghị giải quyết nghiêm theo quy định của pháp luật. Đề nghị khởi tố đối với anh Dương Ngọc T2 và chị Lương Thị L vì anh nghĩ rằng hai người này đồng phạm với N trong việc chiếm đoạt tài sản của anh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Đào Văn H trình bày: Anh là anh họ của N nhưng anh không có công ty X hay trạm trộn bê tông nào, anh đang làm công nhân. Việc N thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền của anh Q như thế nào thì anh không biết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Dương Ngọc T2 trình bày: Anh không biết gì về việc chuyển tiền giữa N và anh Q, việc N mượn tài khoản của anh để nhận tiền anh cũng không biết. Anh có lúc bị hoang tưởng do dùng chất kích thích, anh đề nghị bố anh là ông Dương Văn T6 là người giám hộ cho anh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lương Thị N1 trình bày: Việc bị cáo mượn tên bà để mở tài khoản là có, nhưng việc bị cáo sử dụng tài khoản nhận tiền, chuyển tiền như thế nào thì bà không hề biết vì bà không sử dụng tài khoản này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Dương Ngọc T1 trình bày: Ông không biết gì về việc N có hành vi chiếm đoạt tiền của Q. Kể từ khi anh Q đến nhà đòi tiền thì ông mới biết. Việc con trai ông là Dương Ngọc T2 có điều trị bệnh, nhưng chưa đi giám định ở cơ sở nào. Tại phiên toà ông đồng ý là người giám hộ cho anh T2.
Người làm chứng là chị Lương Thị L trình bày: Việc bị cáo N mượn tài khoản của chị để nhận tiền, N không nói cho chị biết việc N nhận tiền của ai để làm gì, sau đó chị đã chuyển lại ngay cho N. Do ở cùng phòng, N mượn điện thoại của chị nhắn tin cho ai, nội dung gì chị không biết, sau đó N đã xoá các tin nhắn này.
Người làm chứng là bà Khổng Thị T3 trình bày: Con trai bà là Nguyễn Minh Q1 có hỏi vay bà số tiền 1 tỷ để chuyển cho N, bà N1 là người nhận số tiền này nên bà N1 phải biết hành vi phạm tội của N, tại phiên toà bà N1 trình bày không biết là không đúng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng; người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa đã được Hội đồng xét xử công bố lời khai tại Cơ quan điều tra, bị cáo đồng ý và không có ý kiến gì.
Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích các tình tiết của vụ án đã giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Dương Quỳnh N.
Xử phạt: Bị cáo Dương Quỳnh N từ 15 (Mười lăm) năm đến 16 (Mười sáu) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời gian tù tính từ ngày bắt để thi hành án.
Do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, còn phải bồi thường cho bị hại nên đề nghị không phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585 và Điều 589 Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo N phải bồi thường cho bị hại là anh Trần Minh Q số tiền 2.810.722.000 đồng (Hai tỷ tám trăm mười triệu bảy trăm hai mươi hai nghìn đồng).
3. Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Trả lại anh Dương Ngọc T2: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS thu giữ của Dương Ngọc T2.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 thu giữ của Dương Quỳnh N.
Ngoài ra, còn đề nghị giải quyết về án phí, quyền kháng cáo.
Người bào chữa cho bị cáo N trình bày tranh luận: Nhất trí với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo. Về phần hình phạt: bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường khắc phục được một phần hậu quả, Luật sư nhất trí đối với phân tích của đại diện Viện kiểm sát về các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Tuy nhiên, đề nghị áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ người phạm tội là phụ nữ có thai quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nội dung này đã được thể hiện rõ trong hồ sơ và căn cứ vào Công văn số 212/2019 của Toà án nhân dân tối cao và thể hiện chính sách nhân đạo của nhà nước. Nếu bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ này thì đủ điều kiện áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự có căn cứ cho bị cáo được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Mức hình phạt từ 15 năm đến 16 năm tù của Viện kiểm sát đề nghị là quá nghiêm khắc.
Bị cáo N không có ý kiến tranh luận gì, nhất trí với trình bày của Luật sư.
Anh Nguyễn Minh Q1 trình bày tranh luận: Về hình phạt của bị cáo N anh không có ý kiến gì. Đối với Dương Ngọc T2 là người trực tiếp nhận tiền của anh qua tài khoản, Tuấn dung nick giả để gọi cho anh, có lịch sử cuộc gọi nhưng T2 không bị xử lý với vai trò đồng phạm với N nên anh không đồng ý.
Bà Lương Thị N1 trình bày tranh luận: Bà không hề biết gì về việc làm của N; việc N nhân tiền từ anh Q1 như thế nào bà không biết, bà không đi rút tiền vì bà không dung tài khoản này mà do N quản lý và sử dụng tài khoản đó.
Kiểm sát viên đối đáp với Luật sư bào chữa cho bị cáo: Luật sư cơ bản nhất trí với đề nghị của Viện kiểm sát; đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ là người phạm tội là phụ nữ có thai và cho rằng mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị là nặng. Bị cáo mang thai sau khi đã thực hiện xong hành vi phạm tội của bản thân và đang bị người bị hại tố giác; bị cáo phạm tội với lỗi cố ý; thời điểm mang thai bị cáo đang được tại ngoại nên Viện kiểm sát cho rằng bị cáo có thai phải nằm trong thời gian phạm tội thì mới được áp dụng; Công văn của Toà án nhân dân tối cao là hướng dẫn nghiệp vụ của ngành dọc đối với Toà án. Do vậy, Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm không áp dụng điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Nếu bị cáo được áp dụng điểm n nhưng bị cáo phạm tội với số tiền lớn, hơn 4 tỷ, bị cáo cũng chưa thực hiện hết khả năng bồi thường, bị hại có mặt tại phiên toà đề nghị xử lý nghiêm đối với bị cáo; bị cáo lại có tình tiết tăng nặng là phạm tội nhiều lần, phương thức thủ đoạn thực hiện hành vi phạm tội rất tinh vi, mưu mẹo (sau khi bị phát hiện giả mạo hình ảnh chị C, bị cáo tiếp tục lấy hình ảnh chị Đ giả mạo bản thân để tiếp tục lừa anh Q1) nên việc áp dụng xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng theo khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự như ý kiến của Luật sư sẽ không đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Viện kiểm sát đã căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng, tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra để đề nghị hình phạt đối với bị cáo. Do vậy, mức đề nghị xử phạt bị cáo từ 15 năm đến 16 năm tù là phù hợp, Viện kiểm sát giữ nguyên mức đề nghị này.
Đối với ý kiến của bị hại Nguyễn Minh Q1 đề nghị xử lý Dương Ngọc T2 với vai trò đồng phạm với bị cáo N, Kiểm sát viên đối đáp như sau: Căn cứ vào tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra, kết quả xét hỏi công khai tại phiên toà ngày hôm nay thì xác định, anh T2 không biết gì về hành vi phạm tội của bị cáo N với anh Q1 do N giả mạo T2; anh T2 chỉ là người được N nhờ nhận quà, đồ ăn giúp khi anh Q1 gửi cho N; bản thân anh T2 cũng chỉ biết sự việc sau khi anh Q1 đến nhà đòi tiền N (sau khi N lừa anh Q1 xong); tại phiên Toà, anh Q1 cũng không xuất trình được thêm tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh. Do vậy yêu cầu xử lý Dương Ngọc T2 của anh Q1 là không có căn cứ chấp nhận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin lỗi anh Q1; về hình phạt bị cáo chấp nhận xử lý theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố xét xử: Kể từ khi khởi tố vụ án hình sự, trong giai đoạn điều tra, truy tố vụ án, HĐXX thấy Điều tra viên, Kiểm sát viên và Luật sư bào chữa cho bị cáo đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật, không có vi phạm gì. Tại giai đoạn xét xử sơ thẩm, Kiểm sát viên và Luật sư bào chữa cho các bị cáo thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, không có hành vi, quyết định tố tụng nào vi phạm tố tụng.
[2]. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị C, chị Đàm Thị Đ vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; người làm chứng là chị Phạm Thị N3 có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã có lời khai trong hồ sơ, việc vắng mặt những người này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục xét xử vụ án.
[3]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên toà có đủ cơ sở kết luận:
Để có tiền chi tiêu cá nhân và trả nợ, Dương Quỳnh N đã có hành vi đưa ra thông tin gian dối trên mạng xã hội Facebook, Z, giả mạo bản thân là người khác để huy động vốn đầu tư trạm trộn bê tông, vay tiền, tặng tài sản... để chiếm đoạt tài sản của anh Trần Minh Q. Trong khoảng thời gian từ tháng 6/2022 đến tháng 4/2023, Dương Quỳnh N đã chiếm đoạt của anh Trần Minh Q tổng số tiền 4.285.722.000 đồng. N đã khắc phục được 1.475.000.000 đồng trong tổng số tiền chiếm đoạt, còn lại 2.810.722.000 đồng, đến nay N chưa trả cho anh Q.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ và đúng pháp luật.
[4]. Xét tính chất của vụ án thì thấy: Trong vụ án bị cáo N thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị hại, nhưng không có sự đồng phạm, có tổ chức cùng với ai khác, bị cáo thực hiện hành vi một mình.
Hành vi của bị cáo Dương Quỳnh N thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật hình sự; để đạt được mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác để sử dụng chi tiêu cá nhân, bị cáo đã có hành vi xâm phạm vào quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo đã gây ảnh hưởng đến quyền về tài sản của bị hại, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Do đó, phải có hình phạt tù tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo.
[5]. Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy:
- Về nhân thân: Bị cáo Dương Quỳnh N có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự.
- Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;
- Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; khắc phục được một phần hậu quả; bị cáo là phụ nữ có thai; bị cáo có ông nội là ông Dương Văn N4 là thương binh, bà nội là bà Lương Thị S được tặng thưởng Huy hiệu 55 tuổi Đảng, cụ nội bị cáo là liệt sỹ Dương Văn T7, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6]. Về hình phạt chính, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và Luật sư bào chữa cho bị cáo: Bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài mới đủ giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, như đề nghị của Đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ. Hội đồng xét xử không có căn cứ xét xử bị cáo ở mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt như đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo.
[7]. Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự còn quy định về hình phạt bổ sung có thể là phạt tiền. Tuy nhiên, xét bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có công việc ổn định, con nhỏ, hiện chưa bồi thường hết được cho bị hại, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo N.
[8]. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585 và Điều 589 Bộ luật dân sự.
Bị cáo khắc phục cho bị hại anh Trần Minh Q 1.475.000.000 đồng trong tổng số tiền chiếm đoạt, còn lại 2.810.722.000 đồng, đến nay bị cáo N chưa trả cho anh Q, bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên cần buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại Trần Minh Q số tiền 2.810.722.000 đồng (Hai tỷ, tám trăm mười triệu, bẩy trăm hai hai nghìn đồng).
[9]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max thu giữ của Dương Ngọc T2, không liên quan đến việc phạm tội, cần trả lại cho anh T2.
- 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax thu giữ của bị cáo Dương Quỳnh N (được niêm phong) đã qua sử dụng là công cụ trực tiếp được thực hiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[10]. Các vấn đề khác:
Quá trình chiếm đoạt tài sản của anh Q, bị cáo N đã sử dụng tài khoản ngân hàng của bà Lương Thị N1, anh Dương Ngọc T2, chị Lương Thị L; hình ảnh của
chị Nguyễn Thị C, chị Đàm Thị Đ, Facebook của Lương Thị L để đưa ra các thông tin gian dối, nhận tiền của anh Q. Tuy nhiên, trước khi thực hiện, N không thông báo, bàn bạc với những người nêu trên được biết. Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc và xác định bà N1, anh T2, chị L, chị C và chị Đ không tham gia bàn bạc, giúp sức cùng với N thực hiện việc gian dối, nhận tiền của anh Q nên không xử lý những người này là có căn cứ. Trình bày của anh Q về việc Dương Ngọc T2 là đồng phạm với N là chưa có cơ sở.
Quá trình lừa dối anh Q, bị cáo N đã trao đổi với người nam giới tên C1 để cùng đưa ra thông tin gian dối, lừa gạt anh Q. Tuy nhiên, N khai báo không biết rõ nhân thân lai lịch cụ thể của C1 nên cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, làm rõ.
Đối với số tiền 1.500.000.000 đồng, N đã giao tiền mặt tại Việt Nam cho Bùi Phương L1 để kinh doanh góp vốn đổi tiền tại Campuchia, cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng L1 không có mặt tại địa phương, không rõ nơi ở cụ thể. Quá trình N chiếm đoạt tài sản của anh Q, L1 không tham gia bàn bạc, thực hiện. Do vậy, việc N giao tiền cho L1 là giao dịch dân sự nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với L1, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[11]. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326 Nghị quyết 326/2016/UBTVH ngày 16/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Dương Quỳnh N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm của số tiền 2.810.722.000 đồng, cụ thể là: 72.000.000 + (810.722.000₫ x 2%) = 88.214.440 đồng theo quy định của pháp luật.
[12]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1. Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Dương Quỳnh N.
Xử phạt: Bị cáo Dương Quỳnh N 15 (Mười lăm) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời gian tù tính từ ngày bắt để thi hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585 và Điều 589 Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo N phải bồi thường cho bị hại là anh Trần Minh Q số tiền 2.810.722.000 đồng (Hai tỷ, tám trăm mười triệu, bảy trăm hai mươi hai nghìn đồng).
3. Về lãi suất chậm thi hành án: Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không chịu thi hành thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi
theo mức lãi suất quy định tại Điều 357; khoản 2, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền còn phải thi hành.
4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Trả lại anh Dương Ngọc T2: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max thu giữ của Dương Tuấn N5 (được niêm phong).
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax thu giữ của Dương Quỳnh N (được niêm phong).
(Vật chứng của vụ án được chuyển giao cho Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang theo Quyết định chuyển vật chứng số 34/QĐ- VKS-P2 ngày 21/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang và Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 21/8/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang).
5. Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Buộc bị cáo Dương Quỳnh N phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Buộc bị cáo Dương Quỳnh N phải chịu 88.214.440 đồng (Tám mươi tám triệu, hai trăm mười bốn nghìn, bốn trăm bốn mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt (hoặc niêm yết) bản án.
7. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hà |
Bản án số 75/2024/HS- ST ngày 09/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 75/2024/HS- ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Họ tên: Dương Quỳnh N, sinh năm 1993; giới tính: nữ; tên gọi khác: không; nơi cư trú: số nhà A, thôn Đ, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: lớp 11/12; nghề nghiệp: lao động tự do; họ tên bố: Dương Ngọc T1, sinh năm 1973; họ tên mẹ: Lương Thị N1, sinh năm 1976; gia đình có hai chị em, bị cáo là thứ nhất; họ tên chồng: Tô T, sinh năm 1984 (Đã ly hôn); con: 01 con, sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29/9/2023 đến nay, hiện đang tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
